V
ô

Ư
u




Loài hoa che chở nhân tâm
Đón chào Đức Phật, mẹ cầm nhánh hoa
Oai nghiêm voi trắng sáu ngà
Giấc mơ tạ thế trãi hoa sen vàng

Vô Thường bước xuống nhân gian
Ưu Đàm hoa trổ hiện thân ái tình
Sứ điệp của vạn niềm tin
Tôn vinh nhan sắc huyền linh nữ thần

Đóa Vô Ưu trổ nhọc nhằn
Chờ tay thiếu nữ họa hoằn khai hoa
Cảm linh thanh khiết an hòa
Thiện nhân dưới cội Sala ... nguyện cầu !


Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiền truyện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiền truyện. Hiển thị tất cả bài đăng

Vừa xấu xa nhất cũng vừa tốt đẹp nhất

(Thiện Ngữ)

Chuyện kể rằng: một ông vua nọ muốn tìm người tài đức làm cố vấn cho mình nên ra một chiếu chỉ cho toàn dân như sau: “ai tìm được vật gì xấu xa nhất thế giới đem về cho trẫm thì sẽ được trọng thưởng”.

Thời gian qua đi, không người nào làm vua vừa lòng. Một hôm, có một thầy đồ xin vào dâng vua vật xấu nhất thế giới mà ông ta tìm được. Khi vua thấy ông ta vào diện kiến mình với đôi bàn tay không thì hỏi: nhà ngươi tìm được cái gì thế, ta chẳng thấy gì cả”, thầy đồ thưa, “tâu bệ hạ, đây ạ”.

Nói rồi thầy đồ lè lưỡi của mình ra. Nhà vua hoang mang không hiểu nên ra lệnh thầy đồ giải thích. Thầy đồ thưa:

- Tâu bệ hạ, cái lưỡi của kẻ hèn này là vật xấu xa, đê tiện nhất. Lưỡi của hạ thần có thể làm được nhiều chuyện kinh khủng, kể cả giết người. Cái lưỡi của thần nói xấu về người khác, làm chứng dối để người vô tội bị hàm oan. Lưỡi của thần có thể giúp thần ăn uống phè phỡn thừa mứa đến nỗi thân xác thần bị bệnh. Và còn nhiều điều xấu xa khác mà cái lưỡi có thể làm. Vậy tâu bệ hạ, chẳng phải cái lưỡi là vật đê tiện xấu xa nhất đó sao ?”.

Nhà vua vui lòng với cái nhìn sâu sắc và giải thích rõ ràng của thầy đồ, nhưng vua lại ra lệnh cho thầy đồ một việc mới: “vậy ngươi hãy đi tìm cho trẫm một vật tốt đẹp nhất trên đời”.

Thầy đồ cáo lui, xin đi. Một thời gian ngắn sau, thầy đồ trở lại với hai bàn tay không. Nhà vua hỏi: “vật tốt nhất thế gian đâu ?”, một lần nữa, thầy đồ lại lè lưỡi mình ra, nhà vua hỏi, “nhưng cái lưỡi lại có thể vừa là vật xấu nhất và là vật tốt đẹp nhất sao ?”, thầy đồ thưa:

- Dạ vâng, tâu bệ hạ, cái lưỡi của thần là sứ giả của tình yêu nói những lời dịu dàng an ủi người đau khổ, nói những điều vui tươi đầy hy vọng nâng đỡ người bi quan chán sống. Chỉ có cái lưỡi mới có khả năng diễn tả thơ văn, ca hát. Cái lưỡi của thần giúp thần chọn lựa thức ăn vừa ngon vừa bổ dưỡng cho sức khỏe. Và trên hết mọi sự, cái lưỡi của thần cho phép thần nói những lời chúc tụng, ca ngợi đức vua.

Kết quả thế nào thì chúng ta đều có thể nhận ra được, là chính nhà vua ban tặng chức cố vấn hoàng gia cho ông thầy đồ vừa thông minh vừa đạo đức ấy.

Đời người trong một câu chữ

(Sưu tầm)

Ngày xửa, ngày xưa, có một ông vua, như bao nhiêu vì vua khác trong truyện cổ tích, đức vua của chúng ta làm chủ một giang sơn gấm vóc, có một đám đông đình thần giỏi giang và hằng hà sa số thần dân gương mẫu. Điều đáng nói là đức vua rất sáng suốt, nhìn xa thấy rộng, đáng làm gương cho hết thảy các ông vua khác noi theo, người ta có thể chứng minh điều đó bằng một sắc luật của đức vua khi mới bước lên ngôi cữu ngũ: “cho sưu tầm hết tất cả sách vở có trong trời đất, tập trung về hoàng cung cho đức vua tham học”.

Hàng trăm quan lớn, hàng nghìn quan nhỏ, cùng hàng vạn dân phu khuân vác đã làm việc cật lực suốt mười năm dài mới tải hết được sổ sách của nhân loại về kinh đô. Đứng trước một trăm gian phòng chứa đầy nhóc các thủ bản viết tay, đức vua gãi đầu, ra lệnh cho quan tể tướng phải cấp tốc thiết lập một ban quản thủ thư viện, kiêm nhiệm việc phân loại, tóm tắt các văn kiện rồi hãy đem đệ trình cho mắt rồng ngự lãm.

Ban quản thủ thư viện lại làm việc ráo riết bất kể ngày đêm để đạt yêu cầu của đức hoàng thượng. Và sau mười năm dài không ngơi nghỉ, họ mới tóm tắt thâu gọn cái thư viện đồ sộ từ một trăm gian phòng xuống còn một gian duy nhất, rồi hân hoan đệ trình lên đức vua của họ. Đứng trước những tủ sách gọn gàng, ngăn nắp, trình bày vô cùng mỹ thuật ấy, đức vua vô cùng cảm động.

Sau khi nhìn tới nhìn lui … đức vua lại truyền lệnh: “phải tóm tắt nữa, thu gọn nữa … làm sao để trẫm có thể đọc hết tất cả các tinh hoa của nhân loại, thông thái hết những ý kiến khôn ngoan … chỉ trong khoảng mười cuốn sách mà thôi … các khanh đã làm việc thật hoàn hảo, nhưng trẫm không có thì giờ … các khanh hiểu chứ !”.

Dĩ nhiên là ban quản thủ thư viện vâng vâng dạ dạ lia lịa và lại đốt nến bắt tay vào công việc mới. Mười năm dài trôi qua, toàn thể sách vở đã được cô đọng lại trong mười quyển dày cộm, đóng bìa da, gáy mạ vàng, đầy chi chít những chữ. Lần này, đức vua không tiếc lời khen ngợi đám đình thần mẫn cán, bốc vàng bạc ban thưởng cho họ từng nắm lớn, rồi dõng dạc ra lệnh: “hãy tóm tắt thêm nữa … hãy làm cách nào để chúng chỉ còn vỏn vẹn có một quyển thôi, cho trẫm gối đầu giường mỗi khi rỗi rảnh, các khanh hiểu ý trẫm chứ ?”.

Đám đình thần lại tranh nhau tung hô và gật đầu lia lịa. Lại mười năm dài trôi qua. Quyển sách được hoàn thành thể theo lời yêu cầu của người cần đọc. Quan tể tướng long trọng đặt nó lên một cái mâm bằng vàng, phủ nhiễu đỏ, cung kính nâng lên ngang mày, dâng lên đức vua của họ, bây giờ đang hấp hối trên long sàng. Đức vua nhìn quyển sách, rơi lệ, thều thào nói: “muộn mất rồi, các khanh hãy tóm tắt đại ý của quyển sách, trong chỉ một câu thôi, để trẫm được nghe một lần sau cuối”.

Một cuộc đại hội được khẩn cấp triệu tập. Ban quản thủ thư viện lại làm việc ròng rã suốt ba ngày đêm … Sau cùng, quan tể tướng vội vã đến quỳ mọp bên long sàng, dâng lên một mảnh giấy đỏ, có viết mấy dòng chữ vàng bằng nhũ óng ánh. Đức vua gật đầu, ra dấu cho quan tể tướng đọc lớn lên.

Vị trung thần lão thành này cố nén nỗi thương tâm, quẹt nước mắt, hít mũi, hắng giọng, lớn tiếng đọc bằng một giọng rõ ràng và trang trọng: “sinh … i … già … à … bệ … bệnh … ch … chế … chết …”.

Đức vua lắng tai nghe xong, gục gật đầu rồi khép mắt, trút hơi thở sau cùng. Những người xung quanh đều khóc rống lên, quan tể tướng vật vã đập đầu vào long sàng, các đình thần đấm ngực bứt áo … Đám ngự lâm quân hối hả dìu các vị lão thần, ngăn cản các vị trung niên đang nhổ râu sừng sựt.

Trong khung cảnh hỗn loạn đó, tờ giấy đỏ có viết kim nhũ vàng lặng lẽ chao mình theo một cơn gió, bay vèo qua cửa sổ và âm thầm chui vào một cái hốc chứa đầy nước trong máng xối … Toàn thể công lao của ban quản thủ thư viện đều trôi theo những giọt kim nhũ vàng óng ánh, chầm chậm nhỏ từng giọt xuống bức tường đầy phủ rêu xanh.

Con nhện trước miếu Quan Âm

(Truyện Phật giáo)



Thế gian này cái quý nhất không phải là thứ không có được và đã mất đi, mà là hạnh phúc hiện đang nắm giữ. Trong hành trình nhân sinh dài đằng đẵng, ta sẽ gặp hàng nghìn hàng vạn loại người … để yêu một người thì không cần cố gắng, chỉ cần có “duyên” là đủ, nhưng để tiếp tục yêu một người thì phải nỗ lực rất nhiều. Mất đi một người không biết trân quý bạn, có gì phải buồn đau, bởi bạn còn cơ hội - một lần nữa - gặp được người biết rằng bạn quý giá.

Sự tích XUẤT GIA GIEO DUYÊN

(Namo Budhaya)



Xuất Gia Gieo Duyên là việc có từ thời Đức Thế Tôn. Lúc Đức Thế Tôn đang giảng dạy ở tu viện Kỳ Viên, hôm nọ có một ông say rượu loạng choạng đi vô và nói “Thế Tôn, con muốn xuất gia đi tu”. Thế Tôn cười, cho đệ tử cao đầu ông ta và ban cho y bát. Hôm sau tỉnh rượu, ông say này sợ quá, bỏ trốn đi về nhà.

Chư Tỳ Kheo thắc mắc, bàn tán với nhau tại sao Đức Thế Tôn làm chuyện lạ nhỉ, biết hắn say mà vẫn độ cho hắn xuất gia ? Hãy để hắn đi cho khuất, rồi chúng ta sẽ đến thỉnh giáo Đức Thế Tôn về việc này.

Thế là họ kéo nhau đến hương thất Đức Phật, bạch hỏi:

- Bạch Đức Thế Tôn, chúng con không hiểu vì nguyên nhân gì Ngài lại độ cho một gã say như thế ? Xin Ðấng Thiện Thệ giải rõ cho chúng con.

- Này các tỳ kheo, các con dường như trách ta vì đã độ cho một gã say. Nhưng ta hỏi các con, trong lúc hắn say, tại sao không cầu chuyện gì khác, mà lại cầu làm Phật ? Như thế là hắn đã gieo một cái nhân tốt đẹp, ta phải giúp duyên cho hắn, vì ta không hẹp gì mà không giúp cho hắn thành Phật. Vả lại, có bao nhiêu người “tỉnh” biết cầu làm Phật như hắn ?

Vậy thì ai tỉnh, ai say ? Huống chi, hắn có nhậu rượu vào mà say thì bất quá chỉ say vài tiếng đồng hồ rồi tỉnh lại, cho nên, bệnh say của hắn, ta không cho là trầm trọng. Trái lại, biết bao kẻ trên thế gian này, dù không uống rượu mà vẫn cứ say, không phải say vài tiếng đồng hồ như hắn mà say muôn kiếp ngàn đời chưa tỉnh. Cái bệnh say đó, say trong vô minh ái dục, ta mới gọi là một chứng bệnh trầm kha.

Đã rất nhiều kiếp, người này không bao giờ nghĩ đến việc tu tập với bất kỳ tôn giáo nào, giờ ông ta đã khởi tâm và nói thành lời, dù là lời của người say nên ta phải tạo duyên lành cho ông ta, dù là chỉ một ngày.

Trong Qui Sơn Cảnh sách, Tổ Qui Sơn đã nói:

Hộc xuyên tước phi, thức tâm tùy nghiệp
(Chim sổ lồng bay về rừng, tùy nghiệp thọ sinh)

Như nhơn phụ trái cường giã tiên khiên
(Người thiếu nợ, ai mạnh sẽ đòi được/Nghiệp lực xấu mạnh hơn mình sẽ thọ sinh về con đường đó)

Vì vậy Phật tử phải luôn gieo duyên hay rải hạt Bồ Đề mỗi nơi mỗi lúc mình có thể làm trong đời này. Tạo thành một nghiệp tốt cho tâm linh như “nghiệp đi chùa, nghiệp nghe thuyết pháp, nghiệp tụng kinh, nghiệp tập sự làm sư, làm ni cô” (dù là vẫn còn tóc và chỉ một thời gian ngắn, một ngày của Bát Quan Trai), nghiệp bố thí làm hoài những thiện nghiệp, thiện sự rồi sẽ thành thói quen. Giống một cái cây to cao vốn đã nghiêng về một hướng, khi giông bão tới (nhắm mắt xuôi tay) nó sẽ ngã xuống theo hướng đã nghiêng.

Các Tổ Phật giáo đã theo lời dạy của Đức Thế Tôn thực hiện các khóa tu Xuất Gia Gieo Duyên ngàn năm trước luôn là ba tháng, cùng lúc với các sư An Cư Kiết Hạ, khi trời mưa nhiều, đường đi khất thực khó khăn, nguy hiểm, mọi người phải ở yên một chỗ cho lành. Giờ vì công việc làm, khóa tập tu đã ngắn lại còn 10, 15, 20 ngày cho thích nghi với đời sống.

Một ngày phát nguyện Xuất Gia
Là duyên giải thoát hằng sa luân hồi
Nguyện cầu tất cả muôn người
Quay về Chánh Pháp đời đời an vui

Trư hòa thượng

(Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải)



Ngày xưa, ở một ngôi chùa nọ, vị thiền sư trụ trì nuôi một con heo lâu năm. Tuổi heo xấp xỉ tuổi đạo của nhà sư, và cả đại chúng kể từ vị tri sự tăng trở xuống đều phải nhường heo về khía cạnh thâm niên nọ. Do đó vị trụ trì đặt cho heo một biệt danh là Trư hòa thượng.

Trư hòa thượng chỉ có việc ăn, nằm và bài tiết (để lấy phân bón cho vườn chùa) nên rất mập mạp đến không ngồi dậy nổi. Tuy nhiên mỗi khi tiếng hồng chung chùa vang lên vào chiều tối hoặc canh khuya, Trư hòa thượng đều cố ngóc đầu dậy một cách mệt mỏi. Nhân đấy mà thiền sư rất yêu mến Trư hòa thượng, thường chỉ cho chúng xem, bảo:

- Các con thấy đó, loài súc sinh cũng có Phật tánh, chớ khinh thường.

Một hôm thiền sư có việc phải đi xa vài hôm. Ngài cho họp chúng dặn:

- Trong khi tôi đi vắng, lỡ Trư hòa thượng có viên tịch, thì các ông hãy cắt thịt, chia cho láng giềng mỗi nhà một miếng. Hãy nhớ làm theo lời dặn của tôi.

Ðại chúng lấy làm quái dị về lời dặn của vị thầy, nhưng không dám hỏi, cứ vâng dạ lịnh tôn ý. Có lẽ họ nghĩ rằng thầy quá lo xa, Trư hòa thượng không bệnh hoạn gì, chưa chắc đến nỗi chết. Nhưng ngờ đâu thầy vừa đi vắng một hôm thì Trư hòa thượng ngã lăn ra chết. Ðại chúng bây giờ thật khó xử, nếu làm theo lời thầy dặn thì sợ đời dị nghị, nhất là trong khi vắng thầy. Lỡ người ta nghi chúng tăng nhân thầy không có nhà đã làm thịt con heo, rồi vì ăn không hết mà đem biếu thì sao ? Thầy tri sự sau khi hội ý toàn thể đại chúng, quyết định đem mai táng Trư hòa thượng sau vườn chùa, rồi thầy về sẽ sám hối sau.

Khi thiền sư trở về, hỏi ra mới biết chúng không làm theo lời dặn. Ngài dạy:

- Thế là các ông làm lỡ việc của ta rồi.

Khi đại chúng thưa hỏi, Ngài kể:

- Trư hòa thượng chỉ còn một kiếp cuối cùng là giải thoát. Trong kiếp cuối ấy, Trư hòa thượng phải chết vì nạn “loạn đao phân thây”. Nhờ có túc duyên mà Trư hòa thượng được thoát nghiệp ấy trong lúc sống. Nhưng định nghiệp không thể không trả. Do đó mà ta muốn giúp Trư hòa thượng trả xong định nghiệp bằng cách phân thây ông ta sau khi chết. Ðược vậy khỏi thọ sanh kiếp khác. Nhưng bây giờ vì các ông không làm theo lời ta, Trư hòa thượng sẽ phải luân hồi trở lại để trả cho xong định nghiệp.

Ðại chúng nghe lời thầy dạy đều lấy làm hối hận. Ðại sư an ủi:

- Không hề gì, rồi đây các ông lại còn duyên gặp lại Trư hòa thượng.

Thời gian trôi qua nhanh chóng. Thấm thoát đã hơn 20 năm kể từ ngày Trư hòa thượng viên tịch. Một hôm, vị trụ trì mới, đệ tử trưởng kế vị thiền sư sau khi Ngài viên tịch, tiếp đón vị quan huyện trẻ vừa tới nhậm chức tại địa phận chùa nhà. Quan đi quanh chùa thăm viếng tỏ ý lưu luyến như một cố nhân. Quan có cảm tình đặc biệt với tất cả đại chúng, và từ đấy mỗi lúc rảnh rỗi việc quan, ông lại tới chùa đàm đạo với chư tăng. Mối đạo tình đằm thắm ấy kéo dài một thời gian cho tới một ngày quan huyện bị triệu về kinh đô …

Tin đồn quan huyện bị triệu về kinh đô vì một vụ án phản nghịch, và ngay sau đó bị đem ra chợ phân thây, được loan đi rất nhanh đến chùa. Chư tăng bàng hoàng sửng sốt, thương cho số phận quan huyện nhân từ, người bạn chí thiết của cả đại chúng. Tại sao một con người tốt như quan huyện lại phải chịu một cái chết thê thảm như vậy ? Chư tăng ngậm ngùi tự hỏi. Nhất là vị trụ trì - người kỳ cựu nhất ở chùa - người ngày xưa đã từng săn sóc Trư hòa thượng từ lúc tập sự xuất gia đến khi Trư chết, và bây giờ là người bạn thân của quan huyện, vị trụ trì buồn bã mất mấy ngày.

Vào một thời tọa thiền, Ngài bỗng thấy bóng quan huyện mỉm cười hòa nhã, và một âm thanh nhẹ như hơi gió thoảng bên tai Ngài:

- Tôi là Trư hòa thượng ngày xưa, xin đến vĩnh biệt thầy và tạ ơn tri ngộ.

Vị trụ trì bàng hoàng dụi mắt, nhớ lại tất cả chuyện xưa nay.

Bên cội mai già

- Lam Khê

Tôi giật mình thức giấc khi nghe tiếng chim hót líu lo líu rít bên ngoài: “Ôi ! Tiếng chim hót ở đâu, sao giống miền quê mình đến thế ...”, vươn vai đứng dậy, tôi nói trong tiếng ngáp dài rồi chợt im bặt lại khi kịp nhớ ra ... đây chẳng phải là những nơi mà mình từng đến từng đi trong suốt mấy chục năm qua.

Phải rồi. Tôi đang trở lại với ngôi chùa của mình. Ngôi chùa của ngày xưa. Trở lại khi tất cả cảnh vật và thời gian đã quá nhiều thay đổi. Ngôi chùa sau mấy lần tu sửa, bây giờ là một ngôi bảo điện với những nét hoa văn kiến trúc thời hiện đại. Tuy vị Sư huynh đáng kính cố gắng bảo tồn vài di tích cũ mà cũng không thể làm gì hơn được. Người nói với vẻ nuối tiếc trong ngày đầu tiên tôi trở về:

- Sư huynh muốn giữ lại mấy cây cột kèo nơi chánh điện, nhưng mối mọt đã đục khoét gần hết. Mấy cây cột Thầy và mấy huynh đệ đã vào rừng đốn về. Kỷ niệm của một thời. Cũng là tâm huyết của Thầy mình ngày ấy ...

- Thôi Sư huynh ạ ! - Tôi buột miệng ngắt lời - Những cột gỗ non đó làm sao có thể chống chọi mãi với thời gian. Con người còn không thể giữ được nữa là ...

Sân chùa còn lại cội mai già được vun đắp thêm bởi lớp đất đen xốp và bao bọc bằng những viên gạch thẻ để giữ gốc. Cây mai này Sư phụ mang về trồng từ hồi con đường đến chùa còn là lối mòn quanh co đi qua các xóm nhà lá thưa thớt. Trải bao phong sương tuế nguyệt, gốc mai như được tiếp sức thêm từ hơi ấm và khí lạnh của lòng đất nên càng to gốc lớn cành. Đây là di vật của Thầy mà Sư huynh còn giữ. Sư huynh đã giữ được nhiều thứ. Bởi chỉ có người là còn ở lại nơi này, là chứng nhân duy nhất cho bao lớp người đi qua và một thế hệ người đang còn hiện hữu.

Đi bách bộ ra sân, hít thở không khí trong lành buổi sáng, tôi cảm nhận rõ sự sảng khoái sau một đêm dài ngon giấc. Sân trước vang lên tiếng chổi quét cùng tiếng cười nói của mấy chủ Tiểu ở chùa. Đâu đó còn đọng lại chút hình ảnh thân quen ngày nào. Cảnh vật và con người mặc nhiên tươi tắn như nắng sớm buổi ban mai còn ướt đẫm sương trời. Rồi mai này nắng sẽ lên cao, cỏ cây rồi sẽ lớn. Mưa nguồn và cát gió sẽ vun mầm cho những thân cây non vươn lên hấp thụ tinh khí mặt trời mà xanh mầm trổ quả. Nhưng đã có lúc, gió bão nơi vùng quê hương đã đẩy mỗi người con Phật đi về một phương trời. Nơi bến bờ xa thẳm, lòng người ra đi vẫn còn lưu giữ chút hồn quê đọng lại bên mái hiên chùa.

Một cảnh chùa nghèo yên tĩnh nơi vùng đất còn hoang hóa. Ngày ngày mấy thầy trò vào rừng chặt tre nứa cắt cỏ tranh. Sau đó lại ì ạch đèo về bằng xe thồ để làm cột chùa cất mái lá. Chùa mới thành lập mà chúng điệu cũng ngót nghét gần hai chục. Mấy Sư huynh lớn có thể phụ giúp Sư phụ làm vườn trồng lúa trồng khoai, lo tất mọi việc trùng tu xây dựng. Tôi và cả chục chú đồng trang lứa, tuổi đời mới lên tám lên mười, ăn chưa no lo chưa tới, thì được Thầy cho đi học văn hóa trường làng. Trường ở ngoài xóm chợ, hằng ngày phải lội bộ gần nửa giờ mới tới. Có hôm trời mưa lớn, đường đi ngập lụt. Sư phụ bảo Sư huynh chở đến lớp. Chiếc xe đạp sườn ngang, gắn yên xe thồ phía sau để tiện việc chuyên chở bắp đậu ra chợ đổi gạo. Sư huynh đặt tôi ngồi ở sườn trước, phía sau đèo thêm hai chú nhỏ nữa. Xe chạy phăng phăng qua mấy vũng nước lầy lõm. Sình đất văng đầy, hai chú ngồi sau lãnh đủ. Gặp mấy đoạn cua gấp, hay phải tránh các chướng ngại vật, Sư huynh bèn đưa thẳng chân phải lên ngay bánh trước để thắng lại. Loại xe này thường không gắn thắng và cũng chẳng có chắn bùn. Thế là kẻ ngồi trước mặc sức hứng lấy những tia nước đục ngầu bắn lên tung tóe. Phải như ngày ấy người ta tổ chức giải đua xe đạp đường lầy, chắc thế nào Sư huynh tôi cũng giật được thứ hạng cao nhất. Chỉ tội cho chúng nhỏ đi học mà mặt mày lúc nào cũng lem luốc, áo quần thì bê bết lấm bùn, nom chẳng ra dáng một học sinh tí nào.

- Ngày ấy chúng mình hành điệu thật kham khổ vất vả, nhưng cũng có nhiều kỷ niệm vui, Sư huynh hỉ ?

- Ừ ! Thiếu thốn mọi thứ. Ăn thì chỉ nước tương với rau hái ngoài vườn, mà cơm chẳng no lòng, nói chi đến quà vặt trái cây. Mặc thì chỉ được vài bộ vải thô sơ, lại chẳng mấy lúc được lành lặn sạch sẽ. Vậy mà cảnh thiền môn vẫn tràn đầy tiếng cười nói ý vị. Mọi người vẫn hồn nhiên vui, hồn nhiên sống một đời an bần lạc đạo. Nếp sống thanh bạch chẳng khác gì cây cỏ giữa rừng xanh, chỉ nhờ hấp thụ tinh khí của đất trời mà sanh sôi nảy nở.

- Sư huynh nói chuyện văn vẻ và có ý vị ghê. Ngày xưa Thầy nhìn người quả không lầm mà. Biết ngày sau huynh sẽ kế thừa tông phong, làm rạng danh Đạo pháp nơi quê nhà.

Sư huynh cười sau cái lắc đầu nhẹ nhàng tế nhị. Vẫn nụ cười hiền khô như ngày nào. Nụ cười hàm chứa bao vẻ thân tình dễ dãi. Người huynh trưởng luôn là niềm kỳ vọng tin tưởng của Sư phụ, lại luôn sống cần kiệm hài hòa và hết lòng thương yêu huynh đệ. Mà những sư đệ của người thì phần nhiều tâm hồn còn trẻ con nên ưa thích chuyện vui đùa nghịch ngợm, do đó mà không ít lần gây phiền lụy đến người anh cả. Những “sự cố” về thời hành điệu thì nhiều vô kể, nhưng tôi vẫn nhớ sự kiện trốn Thầy đi xem hát vào một đêm trăng Rằm. Hôm ấy có gánh cải lương về đình. Chúng tôi thích đi xem, nhưng sợ Sư phụ nghiêm khắc không dám xin. Đến tối sau giờ tụng kinh, Sư huynh bảo: “Mấy chú cứ giăng mùng, bỏ đồ đạc tập vở vào đó rồi đắp chăn lên, giả như đang nằm ngủ. Huynh sẽ mở cửa cho đi và canh chờ lúc mấy chú về”. Quả là cao kiến. Hôm ấy đèn nhà Tổ vẫn để sáng. Như thường lệ, Sư phụ đinh ninh Sư huynh ngồi học bài với huynh đệ nên không xuống tuần tra. Mọi việc diễn ra thuận lợi. Nào ngờ sáng hôm sau, Thầy gọi tất cả lên tra hỏi ai bày ra cớ sự trốn đi xem hát hồi đêm. Sư huynh đứng ra chịu hết trách nhiệm và xin Thầy tha cho mấy sư đệ ... Lại có lần tôi và điệu Tri chơi giỡn làm bể chậu hoa sứ. Chúng tôi sợ hãi chưa biết làm thế nào, thì thấy Sư huynh đã mặc áo tràng bước vào hậu liêu xin nhận tội với Sư phụ do mình tưới cây sơ ý làm rớt chậu hoa mà người rất yêu quý ...

Đệ nhớ nhiều chuyện thật. Huynh thì chỉ nghĩ làm sao huynh đệ mình có được một ngày hội tụ. Mọi người có những giây phút tâm tình cùng ôn cố tri tân. Nhắc lại chuyện xưa để nhớ tưởng bao ân đức các bậc Tôn sư khai sáng và cũng là nhắc nhở sách tấn cho đàn hậu học … Mấy ngày trở về, huynh đệ cứ luôn miệng nói đến cây mai già - kỷ vật của Sư phụ và cũng vì mùa xuân sắp về rồi. Cây mai có tuổi thọ đã hơn ba mươi năm rồi chứ ít gì. Mỗi năm gốc càng to thì nhánh tán càng vươn rộng, hoa nở càng nhiều. Tôi chưa từng thấy và cũng không ngờ chùa quê mình còn có cây mai đẹp như vậy. Hồi đó, cứ mỗi lần lặt lá mai tôi lại hỏi Thầy: “Sao mùa đông mà cây mai không tự rụng lá như mấy cây khác để mình phải mất công lặt, mất công chờ đúng ngày nó mới chịu ra hoa”, Sư phụ cười rồi phân tích theo lập luận của mình:

- Đó là đặc tính của giống mai đấy. Vì nó là cây sống nơi vùng nhiệt đới, không từng nếm trải cái rét buốt của mùa đông, nên quanh năm lá cứ xanh, bất chấp thời tiết nắng mưa thay đổi. Hoa chỉ nở trong mấy ngày xuân, khi lá đã được lặt sạch chỉ đủ cho con người thưởng thức trong lúc nhàn hạ vui xuân này. Sau đó những mầm lá non nhú lên, thân mai lại có một cuộc sống mới. Mỗi năm người ta có thể chiết cành lá đem đi khắp nơi. Nhưng cội mai già vẫn sống, vẫn vươn cành trổ nhánh, chờ đợi một lần trổ hoa khác, một mùa xuân khác trở về.

Khi xa hẳn mái chùa tôi mới có dịp nghiền ngẫm lại những lời Thầy dạy về sự sống của cây mai. Ôi ! Lòng Thầy và mảnh đất một thời sỏi đá đã dưỡng nuôi biết bao mầm xanh thơ dại. Thời gian dài giúp cho cội rễ càng đâm sâu vào lòng đất, thì nhành lá cũng mặc sức vươn cao. Khi chu kỳ đến ... cây mai lại lan tỏa chút hồn khí trinh nguyên để cho trời đất kịp bước sang mùa đơm hoa thay lá.

- Huynh đệ mình ngồi đây thưởng thức chén trà sớm đi.

Chú tiểu bưng ra bộ tách trà và bình nước nóng đặt trên chiếc bàn đá, bên gốc mai già. Tôi ngồi xuống đối diện, lặng lẽ nhìn Sư huynh châm trà ra tách. Từng cụm khói bay lên, lan nhẹ vào không gian chút xuân tình ý vị … Hằng năm Tết đến, Sư huynh có thể cắt và tỉa ra mấy chục nhánh mai. Đem cắm trên chùa, nhà Tổ, phòng khách và cho khắp cả xóm. Cành lá cứ vẫn xum xuê như vậy đấy. Hồi mới làm chùa lại thì gốc mai chưa lớn lắm mà đã có người tới hỏi mua. Nhưng huynh nhất định không bán. Dưới cội mai này, để huynh đệ về thăm có chỗ ngồi lại uống trà đàm đạo. Nhành lá có thể cho, còn gốc thì không thể bứng. Đó là lời Sư phụ từng dạy. Gốc rễ còn thì còn tất cả. Người tu sĩ mình đi hành hóa muôn phương, nhưng không thể quên nguồn cội tâm linh ... với nơi mình đã từng gieo lên những hạt mầm niềm tin và trí huệ ban đầu.

Một cuộc hành trình mới đi hết hơn nửa đoạn đường, một chén trà sớm còn chưa vơi cạn đáy, rồi đây cũng sẽ vụt qua nhanh như mọi vết mờ quá khứ. Những gì còn đọng lại không gì hơn là tình sư môn nghĩa đạo mầu ... trải qua năm tháng vẫn ấm áp như ánh xuân hồng bên cội mai vàng tươi sắc thắm.

Cho tôi bát nước

- Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo 34
- Trích: “Buddha’s Constant Companion, Ven Ananda”
- Tác giả: Ven. Weragoda Sarada Maha Thero, Cao Huy Thuần dịch



Ananda là đại đệ tử của Phật. Là em chú bác của Phật, Ngài từ bỏ đời sống vương giả, xuất gia theo Phật, hầu cận bên cạnh Phật suốt đời. Ananda là đệ tử thông minh nhất, đa văn nhất của Phật. Tên Ngài thơm trong kinh, chuyện về Ngài làm đẹp sử Phật. Ngài lại là người có dung mạo đẹp đẽ không ai bằng. Vì vậy mà có chuyện sau đây.

Một ngày kia, tôn giả Ananda trở về tịnh xá sau khi đi khất thực. Ăn xong, Ngài cầm bát đi tìm nước uống. Bên đường, một cô thiếu nữ đang thả gàu trong giếng, Ngài bước đến gần, tay bưng bát không.

Prakirti (cô thiếu nữ):

- Thưa tôn giả, Ngài cần gì ạ ?

Ananda:

- Tôi xin cô bát nước.

Prakirti:

- Con là dân hạ tiện.

Ananda:

- Tôi chỉ cần nước uống thôi.

Prakirti:

- Con là dân hạ tiện. Không ai uống nước của con.

Ananda:

- Tôi chỉ xin nước uống cho hết khát thôi. Nước làm cho bất cứ ai đều hết khát cả, đâu có phân biệt đẳng cấp.

Prakirti:

- Con là con gái hạ tiện. Nước giếng thì trong, nhưng đối với người ở đẳng cấp trên, nước của con không sạch. Chẳng có ai ngoài đẳng cấp của con uống nước giếng này cả.

Ananda:

- Tôi có hề hỏi cô thuộc đẳng cấp nào đâu ? Tôi chỉ xin nước uống.

Prakirti:

- Chẳng lẽ Ngài không biết sao ? Trong xứ này có hai đẳng cấp, cấp trên và cấp dưới. Con là người cấp dưới.

Ananda:

- Tôi đâu cần biết đẳng cấp của cô. Tôi chỉ cần nước uống.

Prakirti:

- Làm sao con dâng nước cho Ngài được ? Con là con gái hạ tiện. Những người ở trong lâu đài đàng kia kìa, những người ấy thuộc cấp trên. Còn những người như con, chúng con không có được cả quyền nhìn họ. Họ không giẫm chân lên bóng của chúng con. Khi chúng con đến gần, họ tránh. Nếu họ thấy chúng con, họ phải rửa mặt với nước hương hoa, vừa rửa vừa nói: “Ta vừa thấy dân hạ tiện”. Vậy thì làm sao con dâng nước cho Ngài được ? Làm sao con đến gần Ngài để dâng nước ? Nếu bóng con trải trên người Ngài, Ngài cũng sẽ trở thành dân hạ tiện.

Ananda:

- Tôi không quan tâm gì đến đẳng cấp. Tôi chỉ biết rằng cô cũng là người như tôi. Tôi chưa bao giờ nghe nói đẳng cấp có thể tạo ra khác biệt giữa người này với người kia. Tôi không chấp nhận ý nghĩa ấy. Tất cả mọi người mà tôi thấy đều có hai tay, hai chân, hai mắt, một miệng, một khuôn mặt, một mũi. Mặt trời đâu có mọc ở phương Tây đối với người cấp dưới ? Các người này có bao giờ cảm nhận hạnh phúc hay khổ đau khác ai đâu ? Khi ăn, bụng họ cũng đầy. Họ khác chỗ nào ?

Prakirti:

- Bề ngoài không có gì khác lắm. Nhưng những người ở cấp trên nhờ được xứng đáng mà sinh vào cấp trên. Chúng con thì phạm tội, vì vậy chúng con sinh vào cấp dưới. Họ sinh ra từ miệng Brahma. Còn chúng con sinh ra từ bàn chân Brahma. Chúng con không có quyền học kinh Vệ Đà. Bởi vậy chúng con thấp kém mọi bề. Chúng con là dân hạ tiện.

Ananda:

- Thầy của tôi không dạy như thế. Cô nghe tôi đọc câu này: “No jaccà vasalo hoti – Na jaccà hoti bràhmano. Kammanà vasalo hoti – Kammanà hoti Bràhmano” - (Không ai sinh ra đã thành hạ tiện. Không ai sinh ra đã thành Bà-la-môn).

Sợ hãi và thẹn thùng, cô thiếu nữ ngó quanh. Tay run run, cô cúi xuống đưa gàu nước kề miệng bát rót bát nước đầy. Tôn giả Ananda cám ơn cô rồi mang bát nước đi. Cô thiếu nữ nhìn theo cho đến khi Ananda khuất dạng đàng xa.

Nhìn theo bóng Tôn giả, cô gái như còn nghe văng vẳng bên tai: “Xin cô bát nước”, “Xin cô bát nước”, “Xin cô bát nước”. Lời nói ngọt ngào làm sao. Lời nói dịu dàng làm sao. Người đâu mà đẹp thế. Chẳng lẽ không có giếng nước nào khác ở trong vùng này ? Chẳng lẽ chỉ có nước ở giếng này thôi ? Tại sao người ấy lại đến ngay mình xin nước ? Chẳng lẽ mình là người con gái duy nhất trong vùng này ? Mà có thật người ấy chỉ xin nước thôi, không cần quan tâm rằng mình là con gái hạ tiện ? Người ấy phải biết chứ. Trẻ con cũng biết mình là dân hạ tiện, nhìn áo quần mình bận là biết ngay. Người đẹp đẽ kia là ai vậy ? Từ đâu đến ? Cám ơn trời đưa người ấy đến lại giếng này. Nhờ người, tôi học được rằng tôi là người, là người thiếu nữ. Từ trước đến nay, tôi cứ nghĩ tôi là thú vật, là thiếu nữ thú vật. Ôi, gương mặt quyến rũ. Ôi, đôi mắt tràn ngập nhân từ. Ôi, dáng người thanh nhã, trẻ trung, sáng chói. Làm sao gặp lại người lần nữa bây giờ ? Làm sao nghe lại giọng nói ngọt ngào lần nữa ? Sống làm gì nếu không thấy lại người ? Ôi, giá như ngày nào cũng được dâng nước cho người. Ngày nào cũng được nói với người vài lời. Nếu người lại đến, nhất quyết tôi không để cho người đi. Tôi sẽ mang người về nhà và giữ người lại. Nếu tôi được ngắm người, tôi không cần ăn uống. “Xin cô bát nước”, “xin cô bát nước”, ôi lời nói khắc sâu vào tận đáy lòng.

Mẹ cô thiếu nữ hạ tiện:

- Prakirti ! Prakirti ! Mẹ gọi con nãy giờ sao không thấy ? Con gái tôi đi đâu rồi vậy ? Có chuyện gì xảy đến cho con ? Bộ con mọc rễ bên bờ giếng rồi hay sao vậy ? Lần nào đi lấy nước cũng thế, cứ trò chuyện sa đà với bạn bè thôi. Prakirti, Prakirti !

Prakirti:

- Mẹ ơi, con đây !

Người mẹ:

- Con đâu ?

Prakirti:

- Con đây, bên giếng !

Người mẹ:

- Đã trưa rồi. Đá đã nóng phỏng chân. Con gái nhà người ta đi múc nước đã về cả rồi, con còn la cà ở đấy làm gì vậy một mình ?

Prakirti:

- Mẹ ơi, giọng nói ngọt ngào quá mẹ ơi, “Xin cô bát nước !”

Người mẹ:

- Xin cô bát nước ? Ai xin con nước ?

Prakirti:

- Một người đàn ông trẻ đẹp vô ngần. Đầu cạo, mình khoác áo vàng, tay bưng bát nước. Một chàng thanh niên dáng dấp thư thái.

Người mẹ:

- Cạo đầu ? Làm sao một người đàn ông trẻ cạo đầu mà đẹp được ? Bộ con không biết họ cạo đầu để đuổi cái đẹp đi ?

Prakirti:

- Con không biết. Nhưng người đàn ông ấy đẹp vô ngần. Toàn thân người ấy sáng rực ánh vàng. Cặp mắt dịu dàng. Phong thái bình dị. Người ấy là hiện thân của nhân từ và bình dị.

Người mẹ:

- Người ấy có cùng đẳng cấp với mình không ?

Prakirti:

- Có. Người ấy nói cùng với con một đẳng cấp.

Người mẹ:

- Đẳng cấp gì ?

Prakirti:

- Đẳng cấp người.

Người mẹ:

- Chắc con giấu đẳng cấp của con khi nói chuyện chứ gì ? Bao nhiêu người hạ tiện ở vùng này không muốn lộ đẳng cấp của mình. Thái độ ấy thật là nhục nhã. Nếu ai cũng hãnh diện về đẳng cấp của mình, làm gì còn đẳng cấp thấp nữa. Con không nói cho người ấy biết con là con gái hạ tiện, phải không ?

Prakirti:

- Con nói con là hạ tiện. Nhưng người ấy không chịu nhận như vậy. Người ấy chỉ nhắc đi nhắc lại xin nước uống thôi. Người ấy nói một người trở thành Bà-la-môn hay hạ tiện không phải do sinh ra mà do hành động.

Người mẹ:

- Người ấy nói gì nữa ?

Prakirti:

- Người ấy nói đừng làm trái lại tự do mà ta vốn có như là người. Chối bỏ bản chất người của mình bằng cách nghĩ rằng mình có một bản chất riêng, bản chất riêng ấy là thấp, đáng khinh miệt và không thay đổi được, là tai hại còn hơn là giết bản chất thật của mình. Thiếu tự trọng là một hành động thấp hèn hơn cả hủy diệt bản chất. Người ấy nói như vậy. Mọi người sinh ra trên trái đất này đều là những con người tự do. Người ấy nói sau khi sinh ra như vậy, tự do bị thu hẹp lại vì những chướng ngại như chủng tộc, đẳng cấp, tôn giáo, ngôn ngữ, phong tục, cha mẹ, thầy giáo, giáo sĩ, tục lệ. Trong đầu con, con cứ nghĩ về con như là một người thấp hèn bị ràng buộc bởi tập tục xã hội. Con cứ nghĩ về con như là con chó hoang sục sạo tìm thức ăn thừa ngoài đường. Người ấy mang đến cho con ánh sáng. Con tưởng như sống một đời mới. Chỉ đến ngày hôm nay con mới học được rằng con là thành viên mới của xã hội loài người. Người ấy là ánh sáng. Người ấy là ánh sáng của con. “Xin cô bát nước”, “Xin cô bát nước” ... lời nói ngọt ngào làm sao.

Người mẹ:

- Người ấy không biết gì về đẳng cấp hạ tiện, nhưng con ơi, mẹ biết. Người ta sinh ra thế này hay thế nào là do nghiệp.

Prakirti:

- Vậy những người ở đẳng cấp cao đã làm gì mà được sinh ra như vậy ?

Người mẹ:

- Họ cũng vậy, đó là kết quả của nghiệp.

Prakirti:

- Dù thế nào chăng nữa, người ấy nói với con rằng người ta không trở thành cấp cao hay cấp thấp vì sinh ra như thế. Người ấy nói dù là vua, dù là Bà-la-môn, dù là tăng sĩ, nếu sát sinh, nếu trộm cắp, nếu tà dâm, nếu nói điều độc ác, nếu rượu chè say sưa, thì đều là dân hạ tiện.

Người mẹ:

- Đó là điều mẹ vừa nói với con, đó là kết quả của nghiệp.

Prakirti:

- Mẹ ơi, không phải bất cứ điều gì cũng xảy ra vì nghiệp. Mình là dân hạ tiện không phải vì nghiệp mà là vì xã hội. Con không muốn chấp nhận những chuyện vô nghĩa lý ấy. Người đàn ông trẻ xin con nước tên gì vậy, đó là điều con muốn biết. Người ấy làm gì, con chỉ muốn biết chuyện ấy thôi.

Người mẹ:

- Mẹ đã hỏi rồi. Người ấy tên là Ananda. Người ấy là đệ tử của Phật. Người ấy thuộc dòng dõi Thích Ca.

Prakirti:

- Người ấy làm gì ?

Người mẹ:

- Người ấy là một vị Tăng đã từ bỏ đời sống trần tục.

Prakirti:

- Mẹ ơi, người ấy tốt vô cùng. Con chẳng cần biết người ấy là ai. Con chỉ muốn được nhìn người ấy mãi hoài. Con không thể sống không có người ấy. Con cần có Ananda. Nếu con không có được người ấy con sẽ nhịn đói đến chết. Mẹ ơi, mẹ làm phù phép đi, mẹ dùng hết phù phép mà mẹ biết để mang Ananda đến lại với con. Nếu không, mẹ sẽ không bao giờ thấy lại con gái độc nhất của mẹ. Con sẽ nhịn đói cho đến khi mẹ mang Ananda đến cho con.

Người mẹ:

- Vua Kosala của chúng ta là người rất mộ Phật. Vua đến hầu Phật mỗi ngày. Nếu vua biết con yêu Ananda, vua sẽ đốt nhà con. Vua sẽ cấm dân hạ tiện chúng ta sống trong xứ này. Con làm hại mọi người trong đẳng cấp chúng ta.

Prakirti:

- Nếu vậy thì mẹ đọc thần chú đi. Mẹ đọc thần chú thì Ananda đến liền. Con mà không có Ananda thì con chết.

Người mẹ:

- Phật là người không còn dục vọng. Mà Ananda thì biết thần chú của Phật, Phật chú diệt hết mọi thần chú. Thôi được, mẹ thương con, mẹ đọc thần chú cho con.

Người mẹ đốt phân bò khô, cỏ khô, thêm củi vào cho lửa rực cháy. Bà ném hoa vào lửa, từng cánh, từng cánh, miệng đọc thần chú: “Amale, vimale, kunkume sumane, yena baddhasi vidyut icchaya devo varsati, vidyotati garjati, vismayan, Maharajasya , samabhi vardhayitum, devebhyo manushyebhyo gandhavebhyah shikigraha deva, visikhigraha grahadeva, Anandasyagamanaya, Samgamanaya, kramanaya, grahanaya juho svaha.”

Trong khi người mẹ hạ tiện đọc thần chú như vậy, tôn giả Ananda trong tịnh xá cảm thấy đầu óc bị rối loạn, Ngài rời tịnh xá và đi thẳng đến nhà mẹ con cô thiếu nữ hạ tiện. Thấy tôn giả từ xa đi đến, người mẹ bảo con gái sửa soạn giường gối. Ananda bước vào nhà, đứng lại, lặng yên. Ngài để ý thấy cô thiếu nữ Prakirti trang điểm đỏm dáng và hiểu thâm ý của người mẹ. Tôn giả biết mình đang gặp nạn. Ngài bèn nghĩ đến Đức Phật, và bằng ý nghĩ, Ngài cầu Phật hộ trì. Bằng tuệ nhãn, Đức Phật thấy Ananda đang gặp nạn, bèn đọc một câu chú:

“Sthi racyutith sunitih svastih sarva pranibhyah sarah prasannam nirdosham prashantam sarvatobhayam itayo yatra shamyanti sarva siddhasca yoninani etena satya vakyena svastyanandaya bhiksave”.

Thần chú của người mẹ tan biến. Tôn giả Ananda lấy lại được sáng suốt và trở về lại tịnh xá. Cô thiếu nữ Prakirti bảo mẹ làm cho Ananda quay lại, nhưng người mẹ trả lời rằng Phật chú dẹp tan mọi thần chú trên đời này. Bà nói với con gái, chắc Ananda đã đọc chú của Phật. Tôn giả Ananda thoát được phù phép của người mẹ, trở về tịnh xá, đảnh lễ Phật và cung kính đứng hầu bên cạnh. Phật nói với tôn giả: “Này, Ananda, con phải nghe và nhớ kinh Sadaksara Vidyà này. Đây là bài kinh sẽ hộ trì cho tăng, ni, thiện nam, tín nữ. Này Ananda, con phải nhớ, phải suy ngẫm”.

Đức Phật đọc:

“Andare pandare karande keyurerci haste svara grive Bandhumati, viramati, dhara vidha cilimile, vilodaya, visani loke visa cala golamati gandavile cili mile satiminmena yatha samvibhaketa golamati ganda vilayai svaha” - Ananda, người nào đọc kinh này, người ấy sẽ được tự do nếu bị hành hạ. Người ấy sẽ được giải phóng khỏi trừng phạt nếu có ai ra lệnh trừng phạt. Nếu người ấy khiếp sợ, người ấy sẽ được giải phóng khỏi khiếp sợ. Này Ananda, người nào được kinh này che chở sẽ không bao giờ bị một hành động gì vùi dập ngoài kết quả của nghiệp kiếp trước.

Tôn giả Ananda thoát khỏi phù phép của mẹ cô gái. Nhưng Prakirti, cô thiếu nữ hạ tiện, vẫn cứ yêu thầm Ngài. Một ngày kia, tôn giả đi khất thực, Prakirti đi theo. Ananda không đi khất thực nữa, quay về lại tịnh xá, bạch Phật. Cô thiếu nữ theo gót tôn giả đến tịnh xá, đứng tần ngần trước cổng. Đức Phật cho gọi cô vào.

Đức Phật:

- Có thật là con cứ theo đuổi Ananda ?

Prakirti:

- Bạch thế Tôn, dạ đúng, con có theo đuổi.

Đức Phật:

- Tại sao ?

Prakirti:

- Bạch Thế Tôn, để Ananda làm chồng của con.

Đức Phật:

- Song thân của con có bằng lòng như vậy không ?

Prakirti:

- Cha mẹ con chấp thuận.

Đức Phật:

- Vậy con mời song thân của con đến đây.

Prakirti đi về nhà, nói với cha mẹ rằng Đức Phật muốn gặp hai người. Rồi cô đi cùng cha mẹ đến tịnh xá.

Đức Phật:

- Con gái của hai vị nói muốn có Ananda làm chồng. Hai vị có đồng ý không ?

Cha mẹ cô thiếu nữ hạ tiện:

- Bạch Thế Tôn, chúng con đồng ý. Con gái chúng con nói rằng nó không sống được nếu không có tôn giả Ananda. Nó nói nó sẽ tự tử nếu không lấy được tôn giả.

Đức Phật:

- Được rồi, hai vị có thể đi về nhà, để Prakirti ở lại đây.

Cha mẹ cô thiếu nữ đảnh lễ Phật rồi lui ra.

Đức Phật:

- Trong thành Savatthi này con muốn bao nhiêu thanh niên cũng có, tại sao con chỉ thương yêu Ananda ?

Prakirti:

- Con thích chàng. Con yêu chàng. Lòng con sáng lên vì chàng. Con học được cách suy nghĩ tự do nhờ chàng. Nhờ chàng mà con hiểu rằng con là một người, thành viên của nhân loại. Chính chàng đã làm cho con biết con cũng có mọi ưu tiên, mọi quyền, mọi tự do mà bất cứ người nào cũng phải có. Trong lúc con bị xã hội ruồng rẫy, gạt bỏ xuống tận cùng hố rác, hành hạ với đòn roi của đẳng cáp, y như một con chó hoang, chàng là người duy nhất dạy cho con rằng con cũng là thành viên của chủng tộc loài người. Bởi vậy, chàng là ánh sáng của con. Chàng là cuộc đời mới của con. Con không thể sống được nếu không có chàng. Chỉ thấy chàng là mắt con gặp ân huệ. Giọng chàng ấm bên tai con. Chàng nhìn con dịu dàng, lời nói nhân từ của chàng khắc sâu vào tim con. Con phải có chàng.

Đức Phật:

- Được rồi, ta sẽ cho con Ananda, nhưng con phải theo lời ta nói.

Prakirti:

- Con làm bất cứ điều gì cũng được, nếu Thế Tôn cho con Ananda.

Đức Phật:

- Nếu con muốn Ananda, con cũng phải mặc áo như Ananda mặc. Ananda cạo đầu, con cũng phải cạo đầu. Ananda đắp y vàng, con cũng phải đắp y vàng. Nếu con làm những việc đó, con có thể có Ananda.

Prakirti:

- Bạch Thế Tôn, con sẽ chạy về nhà và sẽ trở lại đây sau khi làm những điều Thế Tôn bảo.

Prakirti chạy về nhà, kể lại sự việc cho mẹ nghe, người mẹ mắng cô. Prakirti khóc, cô nhịn đói.

Người mẹ:

- Con ơi, con điên rồi sao ? Con tuyệt thực đến khi chết sao con ?

Prakirti:

- Mẹ ơi, xin mẹ cạo đầu cho con. Mẹ không làm, con sẽ chết thôi.

Người mẹ:

- Con điên rồi, con ơi, người phụ nữ đẹp nhất là ở nơi đầu tóc. Cạo đầu rồi thì nhan sắc đâu nữa, con đui mù rồi sao, có gì làm người phụ nữ xấu xí hơn ? Nếu tóc con bị cắt, nếu đầu con bị gọt, con sẽ xấu xí như thế nào, trong thành Savitthi này có cô thiếu nữ nào đẹp bằng con đâu, mẹ sẽ tìm cho con một chàng trai xứng đáng. Đừng vội con ạ, kiên nhẫn thêm chút nữa. Còn nhan sắc gì nữa nơi người con gái bị gọt tóc, đừng điên con ơi !

Prakirti:

- Con không muốn bất cứ ai khác. Con chỉ muốn Ananda. Đối với con, chàng là tuyệt đẹp. mặt chàng sáng rực như vàng. Con thích quá cách chàng nhìn, giọng ngọt chàng nói, dáng uy nghi chàng đi. Trên trái đất này, con không muốn bất kỳ ai khác, ngoài chàng.

Người mẹ:

- Thôi được rồi, con ăn đi.

Prakirti:

- Con nhịn đói cho đến khi nào mẹ gọt tóc cho con.

Prakirti tuyệt thực cả mấy ngày sau đó. Mẹ cô quá sợ cô chết, phải cắt tóc cho con.

Người mẹ:

- Rồi đó, bây giờ con giống như ni cô. Chắc chắn ai cũng sẽ thất vọng về con. Đây là mưu chước của thầy của Ananda. Chẳng có ai trở về nhà sau khi bị Ngài ấy lừa, Ngài ấy có phép thôi miên.

Prakirti:

- Điều đó chẳng quan hệ gì. Con bất cần tất cả nếu được Ananda. Con bất cần nếu phải đi xin ngoài đường với chàng. Mẹ ơi, con chạy đến tịnh xá Jetavana đây.

Người mẹ:

- Con đi đi. Rồi xem việc gì xảy ra.

Cô thiếu nữ Prakirti đầu trọc đi đến tịnh xá Jetavana, mình đắp y vàng. Cô đảnh lễ Phật rồi chắp tay đứng hầu bên cạnh. Hàng trăm vị tăng, trong đó có Ananda, ngồi quanh Phật.

Prakirti:

- Kính lễ Đức Thế Tôn, con đã làm y như lời Thế Tôn đã dặn, xin Thế Tôn cho con Ananda.

Đức Phật:

- Tốt lắm, con bây giờ xứng đáng để nhận Ananda. Trước khi ta trao Ananda cho con, con hãy trả lời ta vài câu.

Prakirti:

- Xin Thế Tôn cứ hỏi.

Đức Phật:

- Cái gì nơi Ananda làm con yêu thích ? Dáng dấp, mặt mày, cặp mắt, cách nói, dáng đi … cái gì ?

Prakirti:

- Đối với con, mặt Ananda tươi tốt, mũi đẹp mắt dễ thương, tai mời gọi, giọng nói ngọt ngào, ý nghĩ đúng đắn, toàn thể dáng dấp đều quyến rũ. Như vậy đó, con yêu tất cả vẻ người của chàng.

Đức Phật:

- Con xem thân hình Ananda là đẹp. Nhưng nếu da Ananda bị thương, da đó chảy máu. Nếu không chữa lành, da đó sưng lên. Nó đau, mủ chảy ra. Cái mà con tả là đẹp, chỉ là bề ngoài con thấy, hạn chế nơi da bọc ngoài. Như vậy, vẻ đẹp hay vẻ quyến rũ chỉ là do cái nhìn bề ngoài da thịt. Nếu da của một người bị lột ra, chẳng ai thèm nhìn người đó nữa. Nếu cái gì ở bên trong thân thể bị lật ra bên ngoài, chó quạ sẽ đến tấn công, phải cầm gậy gộc đuổi đánh. Thân thể đó không phải làm bằng vàng bạc, ngọc ngà. Cũng không phải bằng đá quý, san hô. Thân thể đó làm bằng xương, da, gân, thịt, máu, nước bọt, phân …Thân thể đó không đáng giá gì cả khi con nhìn nó. Nếu con nhìn vào thực chất của nó, nó đáng ghê tởm. Người không có trí tưởng rằng nó đẹp, thực chất nó vô thường như bọt nước, như bong bóng, tan biến như tia chớp, huyền ảo như ảo thuật, như giấc mộng. Thân thể là phù du, bất trắc, giả dối, nó giống như chiếc bao chứa đầy đồ phế thải. Khi nó bệnh hoạn, ta trở thành kẻ thù của chính ta. Nếu ta nhịn ăn một ngày, nếu ta không tắm một ngày, nếu ta không súc miệng một ngày, ta sẽ thấy chính ta là đáng tởm, tất cả những gì ghê tởm ứa ra ngoài thân. Thân thể là nơi nương tựa của bệnh hoạn, của buồn bã, của sợ hãi, của nguy khốn. Không ai biết mình sẽ chết hôm nay hay ngày mai. Đồ phế thải của thân thể làm chính ta ghê tởm. Thân thể là nhà chứa của ghê tởm. Ta không thể đem thân này đi theo được. Ta không cho ai thân này được. Bộ xương này gồm 300 đốt, không kể răng. Các đốt xương nối kết với nhau nơi 180 khớp, 900 gân cột thịt lại. 900 mảnh thịt bám chặt vào gân. Toàn thể bộ xương được da bao quanh, cho nên ta không thấy gì bên trong. Da được đánh bóng nhờ lớp sợi tơ đan kết. Thân này có hàng triệu lỗ chân lông, đồ phế thải ứa ra ngoài thân như mỡ đọng quanh chảo. Đó là nơi trú ẩn của hàng triệu con trùng. Đó là nơi than khóc chọn làm chỗ ở. Đó là bị da chứa đồ phế thải với 9 lỗ thoát hơi. Khi hơi thở lìa khỏi thân này, ai cũng sợ hãi, không dám sờ lên. Hai ngày sau, nó bốc mùi thối với đồ phế thải rỉ ra. Thương cái xác chết này hay thương cái xác chết kia, nào có gì khác nhau ? Tình yêu là do ham muốn mà có. Ở đâu không còn ham muốn, ở đấy không còn đắm đuối. Ở đâu có tình yêu, ở đấy có buồn khổ. Từ ngày con bắt đầu yêu Ananda, con đã thực chứng bao nhiêu buồn khổ, khóc lóc, thở than, mất ăn, mất ngủ, suy nhược, hôn mê. Tất cả những điều đó đâu có phải là hạnh phúc. Bây giờ, con hãy suy nghĩ cho kỹ với trí tuệ của con, xem thử thân thể của Ananda có phải là cái gì đáng yêu không ?

Prakirti:

- Ôi, bạch Đấng Giác ngộ, con đã thấm sự thật qua lời giảng của Ngài rồi. Con đã thấy thực chất nơi thân thể mà Ngài tả. Lòng còn nhẹ hơn khi nghe Thế Tôn nói. Con thông suốt mọi lời Thế Tôn dạy.

Đức Phật:

- Nếu thật như vậy, ta sẽ thực hiện lời hứa trao Ananda cho con. Bây giờ con có thể đi về nhà với Ananda.

Prakirti:

- Ôi, bạch Đấng giác ngộ, con không cần Tôn giả Ananda nữa. Lời Thế Tôn đã chữa lành tâm bệnh của con, chữa lành điên cuồng của con. Con không phải là người thiếu nữ có thể hạ mình xuống để điên cuồng như vậy nữa. Tất cả cơn đam mê đã lìa khỏi tâm con rồi. Xin Thế Tôn rủ lòng thương xót thâu nhận con vào Ni đoàn của Ngài.

Đức Phật:

- Đoàn thể Tăng Ni của ta rộng như biển. Bao nhiêu sông đều chảy vào biển, trộn chung nước với nhau, chẳng còn phân biệt nước của sông này với nước của sông kia, tất cả chỉ còn một tên là biển. Cũng vậy, ta không phân biệt người thấp hay cao, chủng tộc, đẳng cấp, xứ sở, ai cũng vào đoàn thể Tăng Ni của ta được cả. Khi vào, tất cả những gì khác biệt trước đây đều tan biến, mọi người cùng sống với nhau như con chung một cha, mang tên chung là Phật tử. Bởi vậy, không có gì cản trở con gia nhập Ni đoàn.

Prakirti gia nhập Ni đoàn và trở thành A-la-hán. Tin đồn về Đức Phật thu nhận một cô gái hạ tiện vào Ni đoàn lan rộng ra khắp thành Savatthi. Giới tướng tá, Bà-la-môn, quý tộc, phú gia rúng động. Họ tự hỏi làm sao một phụ nữ hạ tiện, khi trở thành ni cô có thể đi vào nhà một người sinh ở cấp trên, làm sao một người sinh ở cấp trên có thể đến gần phụ nữ ấy, làm sao phụ nữ ấy có thể nhận thức ăn khất thực từ người sinh ở cấp cao. Họ đến thưa chuyện với vua Kosala, vua cùng với một đoàn tùy tùng gồm những người trong đẳng cấp thượng lưu, thân hành đến hỏi Phật. Đức Phật gọi Ni cô Prakirti, Tôn giả Ananda và tất cả Tăng Ni đến quanh Ngài, rồi Ngài hỏi vua và mọi người có muốn nghe kể chuyện kiếp trước của Prakirti không. Ai cũng muốn nghe. Đức Phật bèn kể:

- Thuở trước, bên bờ sông Hằng, có một vị tộc trưởng thuộc đẳng cấp hạ tiện tên là Trishanka. Vị ấy có một người con trai dung mạo thanh tú, thông minh, học hết kinh Vệ Đà. Khi thanh niên ấy đến tuổi lập gia đình, người cha đến cầu hôn con gái của một người Bà-la-môn, người con gái ấy tên là Prakirti. Người Bà-la-môn tức giận, cho rằng việc cầu hôn ấy là sỉ nhục. Người tộc trưởng hạ tiện đem hết lý lẽ ra để giải thích rằng phân biệt đẳng cấp như vậy là không đúng, bởi vì ai cũng là người cả. May sao, người cha Bà-la-môn ấy học rộng, hiểu nhiều, nên nghe giải thích như vậy thì chấp nhận, bằng lòng gả con gái. Cô thiếu nữ Prakirti xinh đẹp của người Bà-la-môn thượng cấp kia chính là kiếp trước của Ni cô Prakirti đang có mặt ở đây. Con trai của vị tộc trưởng hạ tiện là Ananda. Ta là người tộc trưởng hạ tiện Trishanka của kiếp trước.

Mọi người thích thú nghe chuyện. Vua Kosala và tùy tùng đảnh lễ Phật rồi ra về.

Túi gạo của Mẹ

- Sưu tầm



Cái nghèo, cái đói thường trực trong ngôi nhà nhỏ này nhưng dường như nỗi cơ cực, bần hàn ấy không buông tha họ. Cậu con trai bắt đầu cắp sách đến trường cũng là lúc nỗi mất mát lớn bỗng nhiên đổ ập xuống đầu họ. Cha qua đời vì cơn bạo bệnh, hai mẹ con tự tay mai táng cho người chồng, người cha vắn số.

Người mẹ góa bụa ở vậy, chị quyết định không đi bước nữa. Chị biết, bây giờ chị là chỗ dựa duy nhất cho con trai mình. Chị cặm cụi, chăm chỉ gieo trồng trên thửa ruộng chật hẹp, tài sản quý giá nhất của hai mẹ con chị. Ngày qua ngày, năm nối năm, những tấm giấy khen của cậu con trai hiếu học dán kín cả bức tường vôi nham nhở. Nhìn con trai lớn lên, ngoan ngoãn học hành giỏi giang, nước mắt bỗng lăn trên gò má chị.

Học hết cấp hai, cậu thi đậu vào trường cấp ba trọng điểm của thành phố. Gánh nặng lại oằn lên vai người mẹ. Thế nhưng không may thay, khi giấy trúng tuyển về đến tay cậu cũng là lúc mẹ cậu ngã bệnh. Căn bệnh quái ác làm chị liệt nửa chi dưới. Vốn là lao động chính của gia đình, bây giờ chị chẳng thể đi lại bình thường như xưa nữa nói gì đến chuyện làm nông. Cậu bé vốn hiểu chuyện, thương mẹ vất vả, cậu xin nghỉ học.

- Mẹ này, con nghỉ học thôi, ở nhà làm ruộng thay mẹ. Đi học tiền đâu mà đóng học phí, tiền sinh hoạt phí, lại còn mỗi tháng nộp 15 cân gạo nữa, nhà mình biết lấy đâu ra.

- Có thế nào con cũng không được nghỉ học. Con là niềm tự hào của mẹ, chỉ cần con chăm chỉ học hành, những chuyện khác con không cần bận tâm.

Hai mẹ con tranh luận rất lâu, cậu kiên quyết không đi học nữa vì không muốn mẹ mình phải khổ. Cậu trở nên ngang bướng và lì lợm. Phải đến khi nóng nảy quá không kiềm chế được, mẹ cậu giơ tay tát cậu vào má, cậu mới sững người lại. Đây là cái tát đầu tiên trong đời cậu con trai mười sáu tuổi. Mẹ cậu ngồi thụp xuống đất và khóc nức nở. Nghe mẹ cậu khăn gói vào trường nhập học, lòng cậu nặng trĩu. Người mẹ đứng lặng hồi lâu, nhìn bóng con trai khuất dần.

Ít lâu sau, có người mẹ lặc lè vác bao tải dứa, chân thấp chân cao đến phòng giáo vụ xin nộp gạo cho con trai. Chị là người đến muộn nhất. Đặt bao gạo xuống đất, chị đứng thở hổn hển một hồi lâu mới nem nép đi vào.

Thầy Hùng giáo vụ nhìn chị nói:

- Chị đặt lên cân đi. Mở túi gạo ra để tôi kiểm tra.

Chị cẩn thận tháo túi. Liếc qua túi gạo, hàng lông mày của thầy bỗng cau lại, giọng lạnh băng:

- Thật chẳng biết nên nói thế nào. Tại sao phụ huynh cứ thích mua thứ gạo rẻ tiền đến thế cho con mình ăn. Đấy, chị xem. Gạo của chị lẫn lộn đủ thứ, vừa có gạo trắng vừa có gạo lức lẫn gạo mốc xanh đỏ, có cả cám gạo, đây còn có cả ngô nữa. Thử hỏi, gạo thế này chúng tôi làm sao có thể nấu cho các em ăn được. Thầy vừa nói vừa lắc đầu.

Nhận vào - Thầy nói không ngẩng đầu lên, đánh dấu vào bảng tên của học sinh.

- Tôi có 50.000 đồng, thầy có thể bổ sung vào thêm cho cháu để phụ tiền sinh hoạt phí được không thầy ?

- Thôi chị cầm lấy để đi đường uống nước.

Thầy nói và vẫn không ngẩng đầu lên nhìn người phụ nữ tội nghiệp đang loay hoay, khổ sở, mặt đỏ ửng lên, chân tay thừa thải vì chẳng biết làm gì. Chị chào thầy rồi lại bước thấp bước cao ra về. Đầu tháng sau, chị lại đến nộp gạo cho con trai. Thầy lại mở túi gạo ra kiểm tra rồi cau mày lắc đầu. Thầy có vẻ lạnh lùng, ác cảm.

- Chị lại nộp loại gạo như thế này sao ? Tôi đã nói phụ huynh nộp gạo gì chúng tôi cũng nhận nhưng làm ơn phân loại ra, đừng trộn chung như thế này. Chúng tôi làm sao nấu cơm cho ngon để các em ăn được ? Chị nghĩ thử xem với loại gạo hổ lốn như thế này, liệu chúng tôi có thể nấu cơm chín được không ? Phụ huynh như các chị không thấy thương con mình sao ?

- Thầy thông cảm. Thầy nhận cho, ruộng nhà tôi trồng được chỉ có thế ! Người phụ nữ bối rối trả lời.

- Thật buồn cười cái nhà chị này. Một mảnh ruộng nhà chị có thể trồng được hàng trăm thứ lúa thế sao ?

Nhận vào - Giọng thầy gằn từng tiếng và vẫn không ngẩng đầu lên nhìn chị.

Người mẹ im bặt. Mặt chị trở nên trắng bệch, nhợt nhạt. Chị lí nhí cảm ơn thầy, rồi lặng lẽ bước thấp bước cao ra về. Dáng chị liêu xiêu, đổ vẹo trong cái nắng trưa hầm hập như đổ lửa. Lại sang đầu tháng thứ ba của kỳ nộp gạo. Chị lại đến. Vẫn dáng đi xiêu vẹo, mồ hôi mướt mải trên trán, ướt đẫm lưng áo của người mẹ trẻ. Bao gạo nặng dường như quá sức với chị. Thầy lại đích thân mở túi gạo ra kiểm tra. Lần này, nét giận dữ in hằn lên mặt thầy. Thầy rành rọt từng tiếng một như nhắc cho người phụ nữ ấy nhớ:

- Tôi đã nói với chị thế nào. Lần này tôi quyết không nhân nhượng chị nữa. Chị làm mẹ mà sao ngoan cố không thay đổi thế này. Chị mang về đi, tôi không nhận.

Người mẹ thả phịch bao gạo xuống đất. Dường như bao nỗi ấm ức, đau khổ và bất lực bị dồn nén lâu ngày bỗng nhiên bùng phát, chị khóc. Hai hàng nước mắt nóng hổi, chan chứa trên gương mặt sớm hằn lên nét cam chịu và cùng quẫn. Có lẽ, chị khóc vì tủi thân và xấu hổ, khóc vì lực bất tòng tâm. Thầy Hùng kinh ngạc, không hiểu đã nói gì quá lời khiến cho người phụ nữ trẻ khóc tấm tức đến thế. Chị kéo ống quần lên, để lộ ra đôi chân dị dạng, một bên chân đã quắt queo lại.

- Thưa với thầy. Gạo này là do tôi … tôi đi ăn xin bao ngày gom góp lại mới có được. Chẳng giấu gì thầy, chân cẳng tôi thế này tôi làm ruộng thế nào được nữa. Cháu nó sớm hiểu chuyện đòi bỏ học ở nhà giúp mẹ làm ruộng. Thế nhưng tôi kiên quyết không cho, kiên quyết không để con trai tôi thất học. Có học mới mong thoát khỏi cảnh cơ cực này. Nhà chỉ có hai mẹ con, cha cháu mất sớm … Thầy thương tình, thầy nhận giúp cho. Không nộp gạo, con tôi thất học mất.

Người mẹ trẻ này đều đặn ngày nào cũng thế. Trời còn tờ mờ, khi xóm làng còn chưa thức giấc, chị lặng lẽ chống gậy, lê mình rời khỏi thôn. Chị đi khắp hang cùng ngõ hẻm của xóm khác để xin gạo. Đi mãi đến tối mịt mới âm thầm trở về, chị không muốn cho mọi người trong thôn biết.

Lần này người bị xúc động mạnh là thầy Hùng. Thầy đứng lặng một hồi lâu rồi nhẹ nhàng đỡ chị đứng lên. Giọng thầy nhỏ nhẹ:

- Chị đứng lên đi, người mẹ trẻ. Chị làm tôi thực sự bất ngờ. Tôi đã có lời không phải với chị. Thôi thế này, tôi nhận. Tôi sẽ thông báo với nhà trường về hoàn cảnh của em học sinh này, để trường có chế độ học bổng hỗ trợ học sinh vượt khó.

Người mẹ trẻ đột nhiên trở nên cuống quýt và hoảng hốt. Chị gần như chắp tay lạy thầy. Giọng chị van lơn:

- Xin thầy, tôi có thể lo cho cháu dù không đủ đầy như các bạn nhưng tôi lo được. Khổ mấy, vất vả mấy tôi cũng chịu được. Chỉ xin thầy đừng cho cháu hay chuyện này. Đây là bí mật của tôi, mong thầy giữ kín giùm cho.

Chị kính cẩn cúi đầu chào thầy như một người mà chị mang hàm ơn lớn, đưa tay quệt mắt rồi lại nặng nhọc, liêu xiêu ra về. Lòng thầy xót xa.

Thầy Hùng đem câu chuyện cảm động này báo với hiệu trưởng. Ban giám hiệu nhà trường giữ bí mật này tuyệt đối. Nhà trường miễn phí toàn bộ học phí và sinh hoạt phí cho cậu học sinh có hoàn cảnh đặc biệt này. Ngoài ra học lực của cậu rất khá đủ tiêu chuẩn nhận được học bổng của nhà trường. Cuối cấp, cậu dẫn đầu trong danh sách học sinh xuất sắc của trường. Cậu thi đậu vào trường đại học danh tiếng nhất thủ đô. Trong buổi lễ vinh danh những học sinh ưu tú, khi tên của cậu được xướng lên đầu tiên, mẹ cậu lặng lẽ đứng ở một góc khuất, mỉm cười sung sướng.

Có một điều lạ rằng, trên sân khấu hôm ấy có ba bao tải dứa xù xì được đặt trang trọng ở một góc phía ngoài cùng, nơi mọi người có thể dễ dàng thấy được. Ai cũng thắc mắc, không hiểu bên trong ấy chứa những gì. Trong buổi lễ trang nghiêm ấy, thầy hiệu trưởng rất xúc động kể lại câu chuyện về người mẹ trẻ đi xin ăn nuôi con học thành tài. Cả trường lặng đi vì xúc động. Thầy hiệu trưởng ra hiệu cho thầy Hùng phòng giáo vụ đến mở bao tải ấy ra. Đó là ba bao gạo mà người mẹ với đôi chân tật nguyền lặn lội khắp nơi xin về. Thầy nói:

- Đây là những hạt gạo mang nặng mồ hôi và nặng tình của người mẹ thương con hết mực. Những hạt gạo đáng quý này, tiền vàng cũng không thể mua nổi. Sau đây, chúng tôi kính mời người mẹ vĩ đại ấy lên sân khấu.

Cả trường lại một lần nữa lặng đi vì kinh ngạc. Tất cả đều dồn mắt về người phụ nữ chân chất quê mùa, đang được thầy Hùng dìu từng bước khó nhọc lên sân khấu. Cậu con trai cũng quay đầu lại nhìn. Cậu há hốc miệng kinh ngạc. Cậu không thể ngờ người mẹ vĩ đại ấy không ai khác chính là người mẹ thân yêu của cậu.

- Chúng tôi biết, kể câu chuyện này ra sẽ khiến cậu học sinh ưu tú nhất trường bị chấn động mạnh về tâm lý. Thế nhưng, chúng tôi cũng mạn phép được nói ra vì đó là tấm lòng yêu thương con vô bờ bến của người mẹ. Điều đó hết sức đáng quý, đáng được trân trọng. Chúng tôi muốn thông qua câu chuyện cảm động này, giáo dục các em học sinh thân yêu của chúng ta về đạo đức và lối sống, về tình người và những nghĩa cử cao đẹp. Hôm nay, một lần nữa chúng ta vinh danh những người cha, người mẹ đã cống hiến, hy sinh cả đời vì tương lai con em …

Giọng thầy hiệu trưởng đều đều, ấm áp và hết sức xúc động. Tai cậu ù đi, cậu chẳng nghe thấy gì nữa, mắt cậu nhòe nước. Mẹ cậu đứng đó, gầy gò khắc khổ, mái tóc đã sớm điểm bạc, mắt bà cũng chan chứa niềm hạnh phúc, và ánh mắt ấm áp yêu thương ấy đang hướng về cậu với cái nhìn trìu mến.

Người phụ nữ ấy run run vì đứng trước đám đông, run run vì những lời tốt đẹp mà thầy hiệu trưởng dành cho mình. Với chị, đơn giản chỉ xuất phát từ tình yêu bao la mà chị dành cho con trai. Chị không nghĩ được thế nào là sự hy sinh hay đạo lý lớn lao ấy.

Cậu con trai cao lớn đứng vụt dậy, chạy đến ôm chầm lấy mẹ và mếu máo khóc thành tiếng:

- Mẹ ơi, mẹ của con …

NIỆM PHẬT

- Truyện cổ Phật giáo



Ngày xưa, có một phú ông rất sùng mộ đạo Phật. Phú ông xuất tiền xây cất một ngôi Chùa cực kỳ nguy nga tráng lệ. Ông già hảo tâm ấy lại có tính hiếu kỳ. Sau khi hoàn thành ngôi Bảo Điện, ông già muốn có một điểm gì đặc biệt khác thường nên ông chạm trổ một bức hoành phi thật đẹp và khắc sáu chữ vàng “Nam Mô A Di Ðà Phật” bằng chữ Phạn rồi treo trước chánh điện. Những học giả và bô lão trong làng đều chịu không biết là chữ gì. Họ rất thánh phục phú ông, cho phú ông là một học giả uyên bác, thông hiểu cả Phạn ngữ. Kỳ thật thì phú ông đã nhờ một Pháp sư người Ấn Ðộ viết cho sáu chữ đó.

Ðược thiên hạ trầm trồ khen ngợi bao nhiêu thì tính hiếu kỳ tự đắc của phú ông càng bị kích thích bấy nhiêu. Một hôm, ông cho viết sáu chữ ấy lên các tấm bảng gỗ kèm theo mấy hàng chữ bản xứ ở dưới: “Nếu ai đọc được mấy chữ này tôi sẽ gả con gái cho làm vợ và chia một nửa gia tài”, đoạn phú ông cho dựng những tấm bảng đó khắp nơi trong vùng và mỗi nơi cắt một người đứng gác.

Sau khi những tấm yết thị được dựng lên, các học giả, văn gia, thi sĩ và nho sinh nô nức đến xem, nhưng không một ai đọc được cả. Một ngày nọ có chàng thanh niên bán chiếu tên Hoàng Kim Ấn, đi qua một nơi có dựng bảng, thấy rất nhiều người đang chen lấn nhau vào xem chữ, dĩ nhiên là ai cũng ôm một bầu hy vọng to tướng trong lòng. Tò mò, chàng bán chiếu cũng cố len lỏi để vào cho được. Nhưng khi đến nơi, nhìn lên tấm bảng chàng chẳng hiểu cái quái gì, chỉ thấy mấy dòng chữ ngoằn ngoèo như giun bò, chàng thất vọng quay ra. Song, lúc chàng vừa quay ra thì không may đầu đòn gánh của chàng đụng ngay vào trán của một văn sĩ đang đứng bên cạnh. Hoàng Kim Ấn hoảng hồn la lên “Nam Mô A Di Ðà Phật”. Lập tức người đứng gác bảng tóm lấy cổ chàng và nói: “Ðúng người này rồi”. Hoàng Kim Ấn chẳng hiểu đầu đuôi ra sao, cứ van lạy để xin lỗi vì trót vô ý để đòn gánh đụng vào trán nhà văn. Nhưng người gác nhất định không buông tha chàng, và vội vàng đưa chàng về trình với phú ông. Chàng bán chiếu vẫn kêu van lạy lục xin tha, nhưng người gác lại nói:

- Anh này thật dại dột, sắp được vợ đẹp và giàu sang đến nơi rồi mà không biết, còn cứ xin tha mãi. Bộ anh sợ vợ hay sao ?

Hoàng Kim Ấn càng hoang mang ngơ ngác thêm không hiểu chi hết và cứ bước theo người gác về nhà phú ông. Chả là Hoàng Kim Ấn là một Phật tử rất kiên thành. Mặc dầu nhà nghèo, học ít, không được đọc kinh sách, nhưng chàng rất tin Phật, nên chỉ trì sáu chữ Nam mô A Di Ðà Phật và lúc nào cũng nhớ Phật, niệm Phật, dù đi đứng, nằm, ngồi không bao giờ quên cả. Niệm Phật đối với chàng đã thành một thói quen. Mỗi khi gặp nguy hiểm, hay việc gì ngoài ý muốn của chàng, chàng lại niệm Phật to hơn. Do đó, lúc vô ý để đòn gánh của mình đụng vào tránh nhà văn sĩ, chàng cất tiếng niệm danh hiệu Phật, mục đích để cầu cho việc đó được vô sự. Nhưng không ngờ sáu chữ chàng niệm lại đúng với sáu chữ viết bằng chữ Phạn ở trên bảng, nên người đứng gác tưởng chàng biết những chữ ấy, nên liền tóm lấy cổ chàng rồi lôi cổ chàng về để phú ông gả con gái cho. Khốn nỗi chàng bán chiếu không hiểu cứ tưởng là người ta bắt đi để mang “gông” vào cổ, vì đã làm sứt trán của nhà văn lúc nãy, nên cứ kêu xin tha tội hoài.

Khi về tới nhà phú ông, chàng bán chiếu mới vỡ lẽ là chàng được tôn lên hàng “học giả” để cùng sánh vai với tiểu thư, con gái phú ông để cùng ca khúc “Phượng cầu Kỳ Hoàng”. Chàng bán chiếu thấy bàn tay của định mệnh xếp đặt lắm việc kỳ diệu quá. Bất giác chàng khẽ ngâm hai câu đối để ghi lại một biến chuyển trong quãng đời chàng mà chàng cho là vô cùng huyền bí:

“Phúc chủ, lộc thầy, bát tất con hiền, con thận
Thơm tay, may miệng, hà tụ phụng thỉnh, phụng chư”

Từ đó, Hoàng Kim Ấn sống cuộc đời trưởng giả, nhưng hàng ngày chàng vẫn không quên công việc niệm Phật của quãng đời bán chiếu hồi xưa. Một hôm, vì trái nắng trở trời, vợ chàng cảm gió. Cũng tưởng chỉ qua loa, nào ngờ mỗi ngày bệnh tình mỗi trầm trọng, cứ sốt li bì, không thuốc nào khỏi. Hoàng Kim Ấn đâm lo và lúc nào cũng ngồi bên giường bệnh nhân để niệm Phật. Vừa niệm, chàng vừa đưa tay thoa từ đầu đến chân của tiểu thư, và huyền diệu thay, hễ chàng đưa tay đến đâu là nàng cảm thấy nhẹ nhõm đến đó. Chẳng bao lâu, vợ chàng bình phục hẳn. Thật là đã “may miệng” lại “thơm tay”.

Từ đó, Hoàng Kim Ấn nổi tiếng là một “Ðại y sư” thành danh lừng lẫy, đồn đến tai vua. Thật là một sự trùng hợp li kỳ. Cũng trong thời gian trái nắng, trái gió ấy, công chúa cũng lâm bệnh, và bao nhiêu danh y đã được triệu vào để trị liệu cho công chúa, nhưng đều vô hiệu. Khi tiếng tăm của Hoàng Kim Ấn được đồn đến hoàng cung, lập tức nhà vua hạ chiếu chỉ vời chàng vào để chữa cho công chúa. Nhận được chiếu chỉ, Hoàng Kim Ấn cảm thấy bối rối, lo sợ, sợ vì không biết miệng chàng còn may không nữa ? Câu niệm Phật biết có còn hiệu nghiệm để chữa bệnh cho Công chúa nữa không ? Mặc dầu lo sợ, song không cách nào để khước từ mệnh lệnh của nhà vua, bởi vậy chàng đành “nhắm mắt đưa chân” và chỉ tin tưởng vào sức vạn năng của một câu niệm Phật chí thành, đã đến chỗ nhất tâm bất loạn.

Khi tới hoàng cung, Hoàng Kim Ấn được đưa ngay vào phòng bệnh của công chúa. Chàng đuổi hết người hầu cận ra ngoài. Trong phòng chỉ còn có chàng và công chúa. Bây giờ chàng bắt đầu chữa cho công chúa bằng phương thần dược, miệng chàng niệm Phật, tay chàng thoa vào đầu và mình mẩy công chúa. Công chúa ngạc nhiên và không thấy y sư cho uống thuốc gì cả, mà trong người thì cứ thấy nhẹ nhàng dần, rồi cuối cùng như một chiếc đũa thần hễ tay Hoàng Kim Ấn đưa đến đâu là bệnh hết đến đấy. Mừng và lạ quá, công chúa chạy vào tâu với hoàng hậu và đức vua. Nhà vua thấy con mình bình phục mau quá cũng hết sức ngạc nhiên và trong bụng nghĩ thầm Hoàng Kim Ấn đúng là “thánh sư”.

Nhà Vua hạ lệnh mở yến ăn mừng và khoản đãi “thánh sư”. Trong bữa tiệc không thiếu một thứ gì, đủ cả sơn hào hải vị. Trong lúc rượu đã ngà ngà, nhà vua nhìn ra sân, nơi có đắp một con rồng thật lớn, nói với Hoàng Kim Ấn:

- Trẫm đố khanh biết trong miệng con rồng kia có cái gì ? Nếu khanh nói đúng, Trẫm sẽ cho làm phò mã và gả công chúa cho, bằng không trẫm bắt tội.

Nguy to rồi, nếu lần này mà cái miệng của chàng hết “may” thì đến “du địa phủ”. Ðầu óc Hoàng Kim Ấn lúc này thật là rối tùng xòe, như một túi bòng bong vậy. Chàng tự nghĩ: “Nếu không nói đúng, chắc mình phải chết, còn nếu nói đúng thì cái nghĩa “tào khang chi thê” mới làm sao đây ?”. Thật là tiến thoái lưỡng nan. Ðúng cũng khổ mà không đúng thì chết. Chàng cứ băn khoăn lo lắng, tự nghĩ đời tàn, bất giác chàng than một câu để thương cho số phận: “HOÀNG KIM ẤN”, nhưng chàng vừa dứt lời thì bỗng nhà vua vỗ tay reo và truyền gọi công chúa ra dâng cho chàng một ly rượu. Hoàng Kim Ấn ngơ ngác, không hiểu ra sao. Chàng còn đang ngơ ngác thì nhà vua nói:

- Khanh nói đúng, thật là thánh sư. Trẫm có cất chiếc “Hoàng Kim Ấn” trong miệng rồng đó.

Kỳ diệu biết bao. Tưởng mình chết đến nơi, kêu tên mình lên để than thở cho số phận, không ngờ tên mình lại trùng với tên có giấu bằng vàng ròng của nhà vua, chết thì thoát rồi, còn việc phò mã và lấy công chúa thì sao ? Hoàng Kim Ấn dập đầu xin nhà vua tha cho tội đó, viện lẽ mình đã có vợ và phải giữ trọn đạo thủy chung. Nhà vua cảm khích vì người có tiết nghĩa, không nỡ ép buộc, liền ban thưởng thật trọng hậu rồi sai cận vệ đưa tiễn về nhà …

Huyền diệu và linh nghiệm thay sáu chữ NAM-MÔ-A-DI-ĐÀ-PHẬT khi được phát ra với niềm chí thiết, chí thành và nhất tâm bất loạn.

Ví dù muôn đắng ngàn cay
Một câu niệm Phật tan ngay cấp kỳ
Niệm Phật dứt bỏ oán thù
Lòng không hung dữ ngục tù đâu vương
Niệm Phật mở rộng lòng thương
Oan thân bình đẳng tai ương nào vào

Chuyện kẻ lang thang muốn đổi chỗ với Bồ Tát

- Nguồn tin: NTD TV
- Biên dịch: Minh Quân
- Biên tập: Tuệ Minh



Có một kẻ lang thang, đi vào chùa, thấy Bồ Tát ngồi trên Đài Sen nhận cúng bái của mọi người, anh ta vô cùng ngưỡng mộ.

Kẻ lang thang nói:

- Tôi có thể đổi chỗ ngồi với Người một lát không ?

Bồ Tát trả lời:

- Chỉ cần anh không mở miệng.

Kẻ lang thang ngồi lên Đài Sen. Trước mắt của anh là cả ngày hỗn loạn ầm ĩ, người đến phần lớn là cầu điều này điều kia. Anh vẫn cố gắng chịu đựng trước sau không mở miệng. Một ngày, một phú ông đến. Phú ông: “Cầu Bồ Tát ban cho con một đức tính tốt”, nói xong ông dập đầu, đứng dậy, ví tiền lại bị rớt xuống mặt đất, kẻ lang thang vừa muốn mở miệng nhắc nhở, nhưng kịp nhớ đến điều kiện của Bồ Tát.

Sau khi phú ông đi ra, thì có một người nghèo bước vào. Người nghèo nói: “Cầu Bồ Tát ban cho con ít tiền. Người nhà con lâm bệnh nặng, đang rất cần tiền ạ.” - cầu xong ông dập đầu, đứng dậy, nhìn thấy một túi tiền rơi trên mặt đất. Người nghèo thốt lên: “Bồ Tát quả thật hiển linh rồi.” Ông cầm túi tiền ra đi. Kẻ lang thang muốn mở miệng nói không phải hiển linh, đó là đồ người ta đánh rơi, nhưng anh lại nhớ đến điều kiện của Bồ Tát.

Lúc này, một người ngư dân đi vào. Ngư dân cầu xin: “Cầu Bồ Tát ban cho con bình an, ra biển không gặp sóng gió.” Đoạn dập đầu, đứng dậy, ông vừa muốn đi, lại bị phú ông túm chặt. Vì túi tiền, hai người đánh nhau túi bụi. Phú ông cho rằng người ngư dân đã lấy túi tiền, mà ngư dân thì cảm thấy bị oan uổng không cách nào chịu đựng nổi. Kẻ lang thang không thể nhịn được nữa, anh ta liền hô to: “Dừng tay !” Rồi đem chân tướng nói ra cho họ. Tranh chấp nhờ đó mà đã yên.

Lúc này Bồ Tát mới nói:

- Ngươi cảm thấy làm vậy là đúng chăng ? Ngươi hãy tiếp tục đi làm kẻ lang thang đi. Ngươi mở miệng tự cho mình rất công bằng, nhưng, người nghèo vì vậy mà không có tiền cứu chữa người thân, người giàu không có cơ hội tu đức hạnh, người ngư dân ra biển gặp sóng gió chôn thân dưới đáy biển. Nếu ngươi không mở miệng, mạng sống người nhà kẻ nghèo kia được cứu, người giàu tốn chút tiền nhưng giúp người khác mà tích được đức, ngư dân cũng vì dây dưa không cách nào lên thuyền, tránh được mưa gió, có thể còn sống sót.

Kẻ lang thang im lặng ra khỏi chùa …

Rất nhiều sự tình, nó thế nào, chính là như thế đó. Để nó tiến triển theo tự nhiên, kết quả sẽ tốt hơn. Khi đối mặt với sự việc, ai có thể biết rõ kết quả gì sẽ xảy ra chứ ? Yên lặng theo dõi diễn biến, chính là một loại năng lực. Thuận theo tự nhiên, là một loại hạnh phúc.

Nghiệp duyên chỉ bởi một nụ cười

- Tiểu Thiện, dịch từ Epoch Times

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng giảng rằng, phương pháp độ nhân, cần phải chú trọng “khéo léo đúng dịp”. Câu chuyện Đức Phật hóa độ Bạt Kiết Đế, người con gái đem lòng cảm mến tôn giả A Nan, chính là một minh chứng sống động về phương diện này.


Tôn giả A Nan trông vô cùng anh tuấn khôi ngô, Văn Thù Bồ Tát từng dùng “tướng như thu mãn nguyệt, mục tựa tịnh liên hoa” để ca ngợi ngài. Một hôm, tôn giả A Nan khát nước đến không chịu được, liền đến bên một thiếu nữ đang gánh nước xin chút nước uống. Thiếu nữ này tên là Bạt Kiết Đế, là tộc người Ma Đăng Già vốn bị mọi người xem là hạ tiện. Cũng giống như bao thiếu nữ quyền quý khác, cô cũng đã ngưỡng mộ A Nan từ lâu. Nhân thấy A Nan đến chỗ mình xin nước uống, lòng cô vui khôn tả xiết.

Tôn giả A Nan uống nước xong, cúi mình cảm tạ cô gái, trong lòng ngài không hiểu sao lại có cảm giác dường như đã quen biết cô từ rất lâu rồi. Thiếu nữ nhìn theo hình bóng A Nan đi xa rồi khuất dần, bỗng sinh lòng mến mộ, từ đó cô chìm sâu vào nỗi nhớ tương tư của mối tình đầu, thần trí suốt ngày ngẩn ngơ như mất hồn mất vía. Mẹ cô không ngừng gạn hỏi nguyên do, cuối cùng cô cũng nói ra sự thật. Người mẹ không nhẫn tâm nhìn thấy con gái ngày một gầy đi, liền nghĩ ra một mưu kế Sa Bì Già La Tiên Phạm Thiên chú, có thể mê hoặc đàn ông, nếu như gạt A Nan đến chỗ này, mời người niệm chú, để cho họ gạo nấu thành cơm.

Một hôm, quốc vương Ba Tư Nặc mở hội đàn trai tăng cúng dường, Đức Phật cùng chúng đệ tử là những người được mời đến tham dự. Tôn giả A Nan vì đi ra ngoài chưa về, nên không thể đến dự tiệc hội trai tăng, đành phải tự mình cầm bát đi khất thực. Khi đi ngang qua trước cửa nhà của người thiếu nữ Ma Đăng Già, cô mỉm cười tiếp đón ngài, nói: “Tôn giả A Nan, ngài còn nhớ tôi không ?”

Tôn giả A Nan thực tình vẫn chưa quên người thiếu nữ xinh đẹp này, liền cười cười gật đầu. Thiếu nữ vô cùng xúc động nắm lấy tay A Nan, nói: “Hãy theo em vào nhà nào, vào nhà em nhận cúng dường”.

A Nan trong đầu mơ mơ màng màng đi theo sau cô gái, vào đến khuê phòng của cô, tôn giả cứ như khúc gỗ, mặc cho người ta sắp đặt, trong lòng rất muốn thoát ra, nhưng lại không làm gì được. Lúc này, hội trai tăng cúng dường trong hoàng cung cũng vừa mới bắt đầu, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni biết rõ A Nan bị ma chú khống chế, không cách nào thoát ra được, liền căn dặn Văn Thù Bồ Tát, dùng Lăng Nghiêm Chú mà giải cứu A Nan.

Văn Thù Bồ Tát vội đến nhà thiếu nữ, dùng Lăng Nghiêm Chú hóa giải Sa Bì Già La Tiên Phạm Thiên chú. A Nan giật mình tỉnh ngộ, thoát khỏi sự khống chế của cô gái, lôi thôi lếch thếch trở về tịnh xá. Thiếu nữ Ma Đăng Già không can tâm bỏ cuộc dễ dàng như vậy, ngày ngày cứ đứng chờ A Nan trước cửa tịnh xá, A Nan đi đến đâu, cô theo đến đó. Cuối cùng tôn giả A Nan hết cách, đành cầu xin Đức Phật giúp đỡ. Đức Phật nói: “Ngày mai con hãy gọi cô gái đó đến đây, ta sẽ nói chuyện với cô ấy !”

Ngày hôm sau, cô gái theo A Nan đến gặp Đức Phật. Đức Phật không hề oán trách cô nửa lời, Ngài từ bi mà nói với cô rằng: “tâm tình muốn được gả cho A Nan của con ta hiểu được, nhưng A Nan đã là người xuất gia, nếu con muốn gả cho y, thì con cần phải xuất gia tu hành một năm cái đã”, thiếu nữ liền gật đầu đồng ý.

Đức Phật nói: “Xuất gia cần phải được sự đồng ý của cha mẹ, cha mẹ con đồng ý cho con xuất gia sao ?”

Thiếu nữ đáp: “Bẩm Phật Đà ! Từ nhỏ đến lớn cha mẹ con lúc nào cũng đều nghe lời con hết, họ nhất định sẽ đồng ý cho con xuất gia !”

Cứ như vậy, thiếu nữ Ma Đăng Già vui vui vẻ vẻ mà xuống tóc tu hành, trở thành một thành viên trong nhóm Tỳ Kheo Ni. Sau khi xuất gia, dưới sự cảm hóa của Phật Pháp, trái tim nồng nhiệt ban đầu của cô, càng ngày càng trở nên tĩnh lặng, dần dần cô hiểu ra rằng tình cảm ràng buộc đối với A Nan ngày trước đều là sự ngu muội nhất thời mà thôi.

Phật Đà nói với chúng đệ tử rằng, A Nan và Bạt Kiết Đế 500 năm kiếp trước, trong một lần tình cờ gặp gỡ, hai người đã mỉm cười với nhau, từ đó mà dẫn đến tình duyên trong đời này. Từ đó, Bạt Kiết Đế càng thêm nỗ lực tinh tấn tu hành, sau cùng cô trở thành một trong những người kiệt xuất trong nhóm Tỳ Kheo Ni, chứng đắc Thánh quả còn sớm hơn cả A Nan.

( Dựa theo “Câu chuyện mười đại đệ tử của Đức Phật” )

Con đường từ trái tim

- Lam Khê

Sư sẽ đi à ? Mà sao lại phải đi ? Có phải vì con ở đây làm phiền đến sự thanh tịnh của sư không ?

Vị sư ngồi xuống lấy bình bát từ trong giỏ ra và bắt đầu xớt cơm sang một cái thố. Tân vẫn làu bàu:

- Sư dùng cơm một mình đi. Hôm nay … con ... không ăn đâu.

Tân nói với giọng hơi gắt gỏng buồn buồn. Nhưng vị sư vẫn điềm nhiên bảo:

- Bữa nay cậu không được khỏe hay sao ? Ăn tí cơm đi nào.

- Chắc sư phiền lòng mới đi nơi khác chứ gì ? Sư cứ ở lại. Con sẽ đi chứ đâu thể ở đây mãi được ...

- Cậu chớ áy náy quá như vậy. Chúng ta sống ở đời cũng phải có sự giúp đỡ qua lại. Sư cũng nhờ cơm tín thí để duy trì sắc thân này. Còn cậu ... vì cảnh sa cơ nên mới vào tá túc nơi thảo am này. Cửa từ bi luôn rộng mở thì hề chi có thêm một người. Nay mai sư có việc phải đi hóa duyên xa vài tuần, rồi sẽ trở về. Cậu có thể ở lại đến chừng nào tùy thích. Nếu còn duyên khi sư trở lại sẽ gặp.

- Sư lại nói đến nhân duyên là cái gì thế ? Mà thật là sư không phiền chứ ?

- Hôm nay cậu có vẻ nói nhiều đấy. Ăn cơm đi rồi sư sẽ nói chuyện này. Nếu cậu biết suy nghĩ và nói được như vậy thì từ nay hãy cố gắng sống cho tốt. Sống thật có ích cho mình và cho gia đình. Dòng đời hay cửa đạo luôn có lối mở cho những ai biết quay về ...

Vị sư đưa thố cơm về phía Tân. Quả thật bữa nay lòng dạ chẳng muốn ăn, nên hắn cứ ngồi thừ nhìn sư. Cũng với cung cách chậm rãi từ tốn như mọi ngày, mà sao hôm nay sư có vẻ nghiêm trang khác lạ. Sư sắp nói với hắn điều gì đây. Có lẽ nào ? Tân uể oải bưng bát cơm lên, đầu óc bấn loạn với bao ý nghĩ. Trong một lần tình cờ Tân lạc bước rồi lưu lại đây, thắm thoát cũng hơn ba tháng rồi. Nhà sư mặc nhiên tiếp nhận Tân mà không hỏi han gì. Một tuần vài ngày, Tân thấy sư vào trong xóm hóa duyên khất thực. Đến trưa mang về một bình bát lớn đầy gạo dưa bánh trái. Sư thổi cơm, bới một phần ra bình bát, một phần cơm ra thố cho Tân có cả thức ăn và bánh trái. Tân cũng ý thức được là mình không thể ở không ăn mãi. Mỗi sáng khi vị sư đi khất thực hay giảng đạo cho những nhà phật tử trên phố, thì hắn cũng dậy lo quét tước bàn Phật và hậu liêu của sư. Có khi Tân cũng ra dẫy cỏ, phụ với Sư trồng rau cải, nhặt nhạnh củi khô trong vườn để dành đun và sưởi ấm vào những đêm mưa giá lạnh.

Không ít lần Tân cảm thấy buồn khi nhìn cảnh chiều tàn hay thẩn thờ vì không gian quá đỗi đìu hiu tẻ nhạt. Hắn cứ tự hỏi vì sao những nhà sư, những người tu sĩ, lại có thể chấp nhận cuộc sống xả ly, buông bỏ hết mọi ham muốn đời người chỉ để cầu giải thoát ở cõi hư vô hư thật nào đó. Chẳng biết có ai đạt đến cảnh giới an lạc ấy chưa, chứ đời sống nơi chốn thâm u lặng lẽ thật khó kham nổi. Hắn nhớ nhà, nhớ gia đình và nhớ … Thoáng chút giật mình … Tân thấy mình chẳng khác nào con chim bị tên nên sợ cả cành cây cong. Một tâm trạng lo sợ của kẻ trót gây ra nghiệp tội, giờ có muốn trở về cũng không xong, ở lại cũng chẳng được. Vị sư có thể chưa biết gì về thân phận của Tân. Nhưng một vài lần sư như gián tiếp nói lên điều gì đó:

- Con người ở đời thường hay sợ quả, mà ít khi chịu suy xét để ngăn ngừa những nhân đã tạo. Họ đâu biết nhân quả như bóng theo hình. Nhân đã tạo thì quả khó mà tránh được. Con người ta nếu không làm điều gì sai phạm thì trong lòng lúc nào cũng cảm thấy yên vui vắng lặng như mặt nước hồ thu không gợn sóng. Một đời người biết sống thiện lương chơn chất thì lúc nào cũng an hưởng sự yên vui thanh thản. Cuộc sống trong gia đình hay ngoài xã hội cũng vậy. Ai cũng phải có trách nhiệm chu toàn lấy bổn phận của mình.

Mang nỗi lo lắng ám ảnh nên nhiều đêm Tân cứ chập chờn trong giấc ngủ. Có đêm hắn thét to rồi choàng tỉnh dậy, mồ hôi ướt lã, tim đập loạn xạ. Nhìn sang, Tân thấy vị sư vẫn ngồi tĩnh tọa trong thiền thất. Sư đã ngồi như thế từ đầu hôm. Và hầu như suốt đêm người chỉ nằm xuống nghỉ lưng rất ít. Có lẽ sư đang ở trong trạng thái thiền duyệt thực mà có lần hắn nghe người giải thích. Bước vào giai đoạn thiền định này, hành giả không còn nghĩ đến việc ăn ngủ. Và cũng không nghe cả mọi âm thanh chấn động bên ngoài, cho dù trời đang sấm sét mưa dông. Sư vẫn tịch nhiên, không hề nghe đến những tiếng la hét của Tân trong đêm. Nhưng sáng hôm sau sư lại hỏi:

- Con hay gặp ác mộng nên khó ngủ phải không ? Đó là do di chứng những việc làm không đúng trước kia. Nó nằm yên trong tiềm thức chờ có dịp thì khuấy động lên. Muốn tiêu trừ nghiệp chướng, thì ban ngày con lên bàn Phật lễ lạy cầu nguyện để tỏ lòng ăn năn hối cải. Ban đêm nếu không ngủ được, thì ngồi dậy niệm hoặc tập ngồi thiền cho lòng nhẹ bớt ưu tư phiền muộn. Tâm an tịnh thì giấc ngủ sẽ nhẹ nhàng đến.

Thế rồi, hằng ngày nghe lời sư và cũng vì muốn trút bớt những lo lắng bất an, Tân đến quỳ trước điện phật lạy sám cầu nguyện. Có khi rảnh rỗi hắn cũng tập ngồi thiền. Nhưng vốn là kẻ ưa sự dao động, tâm ý xưa nay chứa đầy vọng tưởng xấu xa, làm sao hắn có thể chịu ngồi yên một chỗ. Tập ngồi chừng dăm phút thì tay chân Tân bắt đầu cọ quậy, tư tưởng lại khơi mào những việc làm trước kia. Hắn nhớ lúc mình bỏ học lêu lõng với bạn xấu. Bao lần đánh đấm với các tay anh chị, ăn cắp tiền nhà đi chơi bời làm cho mẹ phải buồn rầu khổ sở. Những hồi ức về cuộc đời hắn cứ y như thước phim quay chậm lại một cách rõ ràng chính xác …

Vị sư nhận ra ra điều đó nên ôn tồn nói với hắn:

- Ngồi thiền, với người mới học đạo thì không cần phải vận dụng phương pháp cao siêu gì lắm đâu. Con chỉ cần giữ tâm thanh thản lắng động theo dõi từng nhịp thở của mình là được. Nghĩa là khi hít vào thở ra đều giữ trạng thái nhẹ nhàng chậm rãi. Tốt nhất là nên tập đếm hơi thở từ một tới mười rồi đếm ngược lại. Đếm hơi thở cũng là cách để giữ tâm không nghĩ ngợi lung tung, nhận biết là mình đang hiện hữu trong từng hơi thở đó. Thực hành như vậy lâu ngày sẽ định tâm. Một khi tâm định tĩnh thì mọi ý tưởng chơn thiện mỹ sẽ phát sanh. Tâm an lạc thì thân tự chủ hết mọi hành động của mình ngay hiện tại và cả về sau.

Sư giảng dạy thì nghe dễ vậy nhưng thật hành quả không đơn giản, nhất là với kẻ đầy tội chướng như Tân. Nhưng rồi … như mưa dầm thấm lâu, ngày qua ngày hắn tập ngồi im lặng và cố gắng giữ tâm yên tịnh dù chỉ được vài mươi phút. Vậy mà bây giờ sư lại bảo sẽ đi xa. Tân chẳng biết mình phải làm gì đây. Nói gì đây. Đã bao lần hắn định thú nhận với sư. Nhưng ngập ngừng mãi rồi lại thôi.

- Ngày mai con xuống phố, trở về thăm gia đình đi. Mọi người đang chờ con đó.

Tân nhìn sư, lòng hoang mang bấn loạn. Hắn hiểu điều gì đang đợi mình ở cái ngày mai đó. Tân biết có ngày mình phải đối mặt với sự thật. Một sự thật mà hắn cất giữ trong lòng lâu nay. Như vậy là sư đã biết rõ thân phận của Tân. Vậy mà lâu nay người vẫn đối xử tử tế, chẳng tỏ chút băn khoăn ngờ vực về lai lịch của kẻ đến trú ngụ. Hắn nhớ có một lần vờ hỏi sư:

- Nếu có ai đó mà nhân thân không mấy tốt đẹp vì đã làm những điều bất tiếu vô hạnh, bị gia đình xã hội ruồng bỏ. Người ấy nếu lỡ bước đến đây xin tá túc … thì sư nghĩ thế nào ...?

- À, cửa từ bi luôn mở rộng ... Người đến chùa với tâm đạo chí thành là đã tạo sẵn nhân lành từ nhiều đời nhiều kiếp. Và cũng có người đến với nhiều tâm ý khác hẳn. Với ai sư cũng tùy duyên tiếp độ. Trong giáo lý nhà Phật có bốn pháp tu vô lượng đại tâm. Sư gọi là bốn con đường phát xuất từ trái tim mà người tu đạo phải hành trì. Đó là tâm đại từ - đại bi - đại hỷ - đại xả. Thể hiện tâm từ bi hỷ xả có nghĩa là ban vui cứu khổ đến người và hoan hỷ xả bỏ những lỗi lầm họ đã tạo. Giúp cho người có được niềm tin và cơ hội để làm lại cuộc đời.

Hôm sau theo lời dạy của sư, Tân đi về thị trấn. Hắn đi qua nhiều đoạn đường, nhiều góc phố quen thuộc, rồi đứng lại trước một gian hàng, tần ngần nhìn vào. Có hai người phụ nữ và một đứa bé đang ngồi trong nhà. Đó là mẹ, vợ và con của Tân. Một cảnh gia đình ấm êm hòa lạc. Nhưng Tân đâu xứng đáng để dự phần vào đó. Khi còn nhỏ sống trong cảnh một mẹ một con, Tân đã bao lần làm mẹ hắn phải buồn khổ vì sự ăn chơi lêu lỏng đến tánh ngang tàng bất trị của mình. Học hành dang dở, học nghề cũng chẳng thành nghề. Rồi hắn lấy vợ và có con. Vài năm đầu Tân cũng có thay đổi, cố gắng sống đúng trách nhiệm của người đàn ông trụ cột trong gia đình. Hắn phụ với mẹ và vợ trông coi cửa hàng. Hạnh phúc tưởng chừng như mãi trọn vẹn. Nhưng mấy lần đi lấy hàng, cầm trong tay số tiền lớn, gặp bạn cũ rủ rê, Tân lại sa vào con đường ăn chơi bài bạc. Mẹ hắn lại khóc lóc than trời than đất. Nước mắt đầm đìa của vợ cũng chẳng làm lòng hắn lung lay. Tiền bạc trong nhà cứ mặc sức ra đi không thu hồi lại. Rồi những gì tới cũng phải tới. Một lần cay cú vì bị gạt gẫm thua bạc, hắn đã đâm trọng thương người bạn chơi. Tân bị tù. Một năm trong lao ngục, Tân có dịp suy gẫm lại mình, thấm thía nỗi đau mà hắn đã gây ra cho bao người thân. Một năm mẹ và vợ con hắn gần như đoạn giao hẳn, chỉ thỉnh thoảng gởi vào ít đồ, tuyệt không một lần đến thăm. Tân hiểu. Gia đình đã phải chạy vạy đến khánh kiệt. Và giờ chẳng ai còn trông đợi gì đến hắn nữa. Ra tù, Tân không về nhà. Hắn đi lang thang thất thểu như kẻ đứng ngoài lề cuộc sống. Một buổi sáng ...Tân đã dừng chân lại bên am thất của nhà sư.

- Sư có đến nhà gặp mẹ cùng vợ con của cậu, đã nói chuyện nhiều với họ và cũng kể lại việc cậu ở chùa lâu nay với nhiều nỗi ăn năn hối cải thật lòng. Cả nhà ai cũng mong cậu trở về. Gia đình bao giờ cũng là nền tảng căn bản. Là người đàn ông trụ cột, là đứa con duy nhất của người mẹ một đời đau khổ, là một người chồng và một người cha, chỉ chừng ấy thôi đủ cho cậu suy ngẫm và nhận thức rõ trọng trách của mình. Trước hết vì tương lai cuộc sống của con cái sau này. Làm lại cuộc đời bây giờ cũng chưa quá muộn. Lâu nay cậu có duyên về ở với sư, trong cảnh thanh đạm này đã nhen nhúm lên một tâm hồn thiện lương. Ngày mai, cậu hẳn biết mình phải làm gì rồi. Sư rất mong chờ điều đó sớm được hiện thực.

... Khi Tân về lại thảo am thì vị sư đã đi rồi. Không gặp sư nhưng Tân nghĩ mình sẽ trở lại. Con đường ngày mai luôn rộng mở cho những ai biết quay về nẻo chánh. Con đường thấm nhuần ánh đạo từ bi mà Phật soi sáng cả ngàn năm qua. Con đường mà chư Bồ Tát đã bắt nguồn từ lòng bi mẫn, từ ý niệm sẻ chia ban vui cùng cứu khổ muôn loài. Tân nhận chân ra điều đó khi được trở về nương tựa bên sư.

Vọng tiếng chuông chùa

- Truyện ngắn: Lam Khê



Ngọn đồi nằm khuất sau lũy tre vàng, không cao lắm nhưng có thể nhìn bao quát hết mọi cảnh quan trong thôn xóm. Phía trước con đường làng có dòng kênh xanh chảy xuyên qua những cánh đồng lúa bạt ngàn xa tít. Chiều đến, đám thanh niên trai trẻ quanh vùng thường rủ nhau lên đồi vui chơi ca hát. Giữa không gian yên ả của vùng quê sông nước, chợt đâu có tiếng chuông chùa nhẹ êm theo làn gió thoảng.

Ngày còn bé, Nhi hay theo bọn trẻ con trong làng lên đồi chơi. Khi nghe cô bạn nhỏ gọi là đồi Vọng, Hải cắc cớ hỏi:

- Vọng gì ? Đồi Vọng Phu à ?

Nhi lắc đầu:

- Không phải. Nhi nghe người lớn nói vọng có nghĩa là mong ngóng, là trông chờ. Nhưng theo Nhi thì vọng còn có nghĩa là “Vọng tiếng chuông chùa”, vì khi đứng trên ngọn đồi có thể nghe cả tiếng chuông chùa vọng lại từ xa …

- Thôi đi cô bé ưa mơ mộng à ! Con nít mà suy tưởng chi những điều xa xôi lắm vậy - Hải hóm hỉnh cười chế nhạo bạn.

- Ơ ! Thì Nhi nghe người ta nói như thế mà.

Khung trời tuổi thơ đầy ắp những lần hái hoa bắt bướm, tưởng chừng như thế giới này chỉ hiện hữu bấy nhiêu qua các trò quê mùa mộc mạc. Lớn lên đi học xa nhà, thỉnh thoảng Nhi cũng dẫn về vài người bạn thân người thành phố. Quê của Nhi không có cảnh kỳ quan làm nao nức lòng người khi đến, nhưng màu xanh của những đồng lúa trải dài mênh mông, của những đồi cây trái thoai thoải bạt ngàn đã nuôi sống biết bao ước mơ bình dị. Chừng ấy thôi cũng đủ khiến cho ai đi xa luôn vương vấn nhớ về.

Ấy vậy mà … Khi Nhi đang làm luận án tốt nghiệp cho đề tài về làng quê mình thì Hải trở về. Hải về mang theo chút rong rêu quá khứ đã bị lớp bụi thời gian xóa dần theo năm tháng. Hải về để Nhi có dịp ôn lại những kỷ niệm của một thời. Hai đứa trẻ cùng lớn lên chung một bờ rào ngăn hờ bên hiên nhà, lại chung lớp chung trường, chung một ước vọng đi về khi tuổi đời mới lớn.

Trước ngày theo gia đình rời xa đất nước, Hải rủ Nhi lên đồi Vọng chơi lần cuối. Không có dòng nuớc mắt chia ly, không có lời nhắn nhủ ngậm ngùi khi xa cách. Nỗi buồn của tuổi hồn nhiên chỉ thoáng qua, nhưng Nhi vẫn cảm nhận từ đây mình sẽ mất đi một người bạn thân thiết nhất. Hải cũng xúc động. Cậu bé không nói gì nhiều, chỉ nhìn bâng quơ ra cánh đồng lúa chín. Một chiếc lá rơi. Một cơn gió lạnh buổi tàn đông. Và mảng trời chiều man mác màu tím buồn như gói kín niềm tâm sự chưa thố lộ thành lời. Thời gian lúc này chỉ còn là khoảnh khắc, mà những gì Hải nói đã trở thành niềm tin tưởng tuyệt đối trong lòng Nhi: “Hải sẽ trở về. Lâu lắm là mười năm thôi. Nhi chờ nhé. Chúng ta sẽ xây dựng hạnh phúc trên mảnh đất này, trên quê hương này. Không ở đâu đẹp bằng quê hương mình cả, Nhi ạ !”

Hải ra đi. Hơn mười năm trôi qua, những lá thư nhạt dần. Bao lời hứa chỉ còn là bóng dáng mong manh của một thời thơ dại. Nhiều lần Nhi thơ thẩn một mình trên ngọn đồi, với chiếc cọ và giá vẽ. Cô vẽ mãi hình ảnh quê hương cuồn cuộn một màu xanh giữa đất trời như chính tâm tư của người chờ đợi. Mỗi gam màu là sự thể hiện niềm riêng mà cũng chứa đựng nỗi khát vọng sống của bao thế người đi qua cùng thời đại. Bóng chim trời đã vuột cánh bay xa. Dòng sông xưa cũng đổi màu theo làn khói lam chiều lãng đãng. Lòng thủy chung một thời gắn bó cũng mất đi dần những khái niệm đối xứng trước bao toan tính đời thường. “Đôi khi một người dường như chờ đợi … thật ra đang ngồi thảnh thơi” - Nhi ngâm nga câu hát quen thuộc như thể cõi lòng này chẳng có gì để chờ đợi nhớ thương.

- Nhi à ! Mẹ nghe nói thằng Hải mới về thăm quê phải không ?

Vừa mang đồ vẽ ra đến cửa, nghe mẹ hỏi, Nhi quay lại trả lời ậm ự:

- Dạ, con cũng nghe nói.

- Nó không đến thăm con sao ?

Nhi cười:

- Người ta bây giờ là Việt Kiều mà mẹ. Bạn bè cũ đâu nhất thiết phải thăm viếng qua lại.

… Một bóng người ngã dài trong ánh nắng giữa ngọn đồi. Nhìn từ dưới Nhi sợ mình ngộ nhận. Hải đó sao ? Vóc dáng cao to cương nghị gần như xóa hết mọi góc cạnh về cái thời thanh thư đen sẫm của cậu bé tinh nghịch. Hải quay nghiêng người với tia nhìn mừng vui bỡ ngỡ. Nhi cố bước chậm qua đám cỏ may, sợ khua động lại bao lối mòn còn in dấu chân xưa.

Hải chạy lại bên Nhi, cười tươi rạng rỡ. Nụ cười vừa thân thiết vừa xa xôi làm Nhi hơi bối rối, cô nhẹ nhàng hỏi bạn:

- Hải về bao giờ ? Sao không đến nhà Nhi ?

- Hải về cả tuần rồi và mới tới nhà Bác Hai chiều hôm qua. Nghe nói Nhi hay lên đây vẽ nên Hải đến tìm thử xem. Không ngờ lại trùng hợp thật là thú vị. Sắp ra trường rồi phải không ? Nhi học hội họa à ?

Vẫn lối bông đùa, vẫn chất giọng trầm ấm như thuở nào, duy ánh nhìn chứa đầy vẻ khinh bạc của người từng trải phương xa. Nhi lắc đầu bâng quơ:

- Không ! Nhi học Văn khoa, chỉ biết vẽ vời đôi chút thôi. Nhi thích khung cảnh yên tịnh này nên hay tìm đến ...

Đôi bạn sóng bước đi bên nhau. Cuộc tao ngộ không gợn lên niềm cảm xúc như được chờ đợi bao nhiêu năm. Cảnh vật vẫn còn đây. Chỉ có lòng người trở về là chân bước ngập ngừng như vừa dẫm qua một bến bờ xa lạ … Hồi lâu Nhi mới khẽ khàng cất tiếng để lấp lửng sự lúng túng ngỡ ngàng của hai người:

- Hải thấy làng quê mình xinh đẹp và phát triển hơn ngày trước chứ. Đồng lúa cây trái bạt ngàn. Kia là con kênh xanh vừa mới hình thành mấy năm nay đó. Bây giờ nông dân đã có máy bơm nước, máy gặt đầy đủ cả ...

Một đám khói tỏa ra từ dưới chân đồi. Ai đó đang đốt cỏ. Làn khói bay lên làm Hải khó chịu phải nheo mắt lại, anh lầm bầm ngắt lời cô:

- Làng quê mình bao năm rồi vẫn vậy. Ruộng vườn dù cò bay thẳng cánh, dòng sông có êm ả trong lành, thì chỉ khá hơn với cái thời con trâu đi trước cái cày thôi. Còn nhìn chung thì cảnh sắc và đời sống cứ nhàn nhạt u buồn làm sao ấy. Nếu Nhi đi ra nước ngoài, mới thấy hết sự phát triển và giàu đẹp của xứ người ta. Thế giới bao la tươi vui biết chừng nào chứ đâu chỉ bó hẹp bấy nhiêu.

Chừng như có vệt sáng vừa lóe lên rồi nhanh chóng tan biến vào hư không mà Nhi không thể nào nắm bắt lại được. Đây là điều mà cô chờ đợi nơi người bạn thân tình bao năm đó sao. Ngẩn ngơ nhìn đàn cò trắng bay qua, Nhi ray rứt với ý nghĩ: “Mình quả thật ngây ngô. Trò đời dâu bể đổi thay, huống chi đã mười năm xa vắng thì còn mong đợi gì một tình bạn cao đẹp trong sáng. Chuyện ngày qua … đã trôi theo dòng sông ký ức mịt mù !”

Suốt mấy tháng bận chuẩn bị thi cử, làm luận án tốt nghiệp, Nhi không có dịp trở về quê, không tìm lên ngọn đồi Vọng để vẽ lại khung cảnh làng quê và lắng nghe tiếng chuông chiều nhẹ khua vọng theo cánh cò bay lả. Hải lại ra đi. Hải đi không một lời từ giã, cũng không có gì lưu luyến để làm vướng bận một nơi chốn bình yên vốn dĩ. Tất cả rồi sẽ qua nhanh. Và lòng người cũng sớm phôi phai theo thời gian. Nhi từ chối mọi lời mời đi chơi, những buổi chiêu đãi bạn bè của Hải. Và ngay cả lời tỏ tình đột ngột cũng được dự định đâu vào đó:

- Hải về thăm quê lần này cũng vì lời hứa năm xưa, Nhi à ! Chúng ta cùng xây dựng gia đình với nhau nhé. Hải thấy không ai xứng đáng với lòng tin yêu của mình hơn Nhi cả. Dù mười năm ít liên lạc thư từ nhưng Hải vẫn hỏi thăm và không quên cô bạn gái ngày nào. Nếu không có gì trở ngại, mình sẽ tổ chức đám cưới, và lo giấy xuất cảnh cho Nhi ngay. Hải còn phải trở về bên ấy. Công việc làm ăn không thể trì hoãn.

Nhi bật cười, lòng trống trải như nhành cây khô lịm tắt trước buổi tàn thu. Tình yêu mà Hải thể hiện sao giống trò mua bán đổi chác mà hồi nhỏ hai đứa vẫn bày ra chơi. Người lớn mặc cả cuộc đời có vẻ toan tính thực dụng, nên cũng đầy rẫy sự chông chênh bí hiểm. Cô nhẹ nhàng từ chối, rồi trở về bên cánh đồng quê cùng khung giá vẽ thường ngày, vui lòng với những gì hiện có vì chẳng còn gì để chờ đợi. Mọi người ngạc nhiên và lấy làm tiếc cho Nhi. Chỉ có mẹ thì không nói gì cả. Mẹ luôn hiểu và đồng tình với những suy nghĩ và quyết định của Nhi. Hải không ngớt chất vấn gạn hỏi:

- Nhi có người yêu khác rồi chứ gì ? Bao nhiêu người chờ Hải nói ra điều này mà không được … còn riêng Nhi thì …

Nhi từ tốn trả lời bạn:

- Đối với Nhi thì tình yêu quê hương là sâu xa và to lớn hơn cả. Quê hương dù chưa giàu đẹp nhưng đây là nơi đã dưỡng nuôi và cho mình một thời tuổi thơ êm ấm hiền hòa. Dù có đi đâu, có làm gì đi chăng nữa thì hình ảnh quê nhà vẫn mãi mãi là cõi bình yên nhất để lòng mình hướng tới.

Chiều nay, hoàn tất bức ký họa về phong cảnh, Nhi thở phào đứng dậy rồi từ từ thả bộ xuống cuối ngọn đồi. Ngôi chùa nhỏ vang lên tiếng chuông chiều yên ả bâng khuâng. Tiếng chuông từng làm Nhi khắc khoải như chờ đợi một điều gì chưa đến. Nhưng lúc này, cõi lòng thanh thản, thì tiếng chuông chùa lại trở thành một dạo khúc êm đềm, vun mầm cho bao ý tưởng mới vươn lên. Tiếng chuông hay tiếng lòng người đang trực hiện với nơi chốn hằng nhiên bất tận.

Ở tận phương trời xa chắc Hải cũng nhận ra được điều đó. Bởi cuối cùng ai cũng phải có lúc quay trở về với nơi mình từng cất tiếng khóc chào đời mà năm tháng chưa thể xóa nhòa trong tâm tưởng.