- Hàn Long Ẩn

Có thể chúng ta đã biết cuộc đời này là mộng, nhưng trong cuộc sống thường nghiệm thì chúng ta lại hành xử như mọi thứ đều là thực. Chẳng phải vậy sao ? Chúng ta luôn luôn chạy theo sự thôi thúc của tham, sân, si, cho nên được thì mừng, mất thì khổ, khen thì vui, chê thì ghét … Nguyên do cũng vì chúng ta cho rằng được, mất, khen, chê đó là thực, không phải mộng. Nhưng thực ra tất cả đều là mộng, bởi vì “Nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán.” Đó là lời Phật dạy trong Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Tại sao chúng ta đang thức, đang tỉnh táo như thế này mà bảo là mộng ? Tại sao chúng ta đang sống trong cảnh thực, biết đói để ăn, biết khát để uống, biết đau, biết buồn, biết khổ, biết tối ngủ và sáng thức dậy, mà bảo là mộng ? Như thế phải chăng chúng ta đang nằm mộng giữa ban ngày ? Đó là công án lớn của đời người.
Cõi ân tình mà cũng chỉ là mấy giọt sương sa thì ngôn ngữ thi ca sao không phải là âm vọng dội lên từ hố thẳm. Hố thẳm là phạm trù triết lý vừa chuyên chở ý nghĩa của bản thể học, vừa mô tả diện mạo đích thực của hiện tượng luận mang sắc thái hiện sinh mà một thời làm sôi động sinh hoạt văn học nghệ thuật trên trường thế giới, và cũng vừa minh họa thực tướng vô tướng của vạn hữu bằng ngôn ngữ loài người. Một khi đã nghe tiếng vọng từ hố thẳm thì khách lữ hành không còn cách xa mấy với bản lai diện mục rồi. Có lẽ vậy. Mà biết đâu chừng ngay dưới chân của gã tiều phu quên ngày tháng kia lại chẳng là bản lai diện mục.
Trong cõi nhân gian tương đối, có con đường nào mà không dẫn đến điểm tận cùng, cũng như có cuộc sống nào mà không là sinh, già, bệnh, chết. Cuộc lữ ra đi trong cõi tử sinh mộng ảo rồi cũng có lúc phải quay về. Với nhà thơ Hàn Long Ẩn, cuộc lữ là cuộc chơi. Vốn biết là cuộc chơi cho nên, nhà thơ rất thản nhiên tự tại từ lúc đến cho tới lúc đi.
Vậy thì thanh âm cuộc lữ là gì trong cõi mộng trăm năm này ? Xin hãy nghe nhà thơ Hàn Long Ẩn gõ nhịp ngôn ngữ thi ca mà hát nghêu ngao trên đỉnh cô phong thì sẽ rõ. (Trích: “Thanh âm cuộc lữ”)
Cất tiếng hát trên Cô Phong tuyệt đỉnh
Dắt mây về hội tụ giữa ngàn sao
Ta nhấn giọng gọi mùa thu trở lại
Chiếc lá nào bay chấp chới trên cao
Nghêu ngao hát mà Tào Khê cuồn cuộn
Gánh phồn hoa, ôi sinh tử triền miên
Thì xin hỏi cọng lau bên bờ suối
Cuộc đi này còn dâu bể chung chiêng
Đi đi nữa cho dài thêm cuộc lữ
Hát hát lên vang vọng bản trường ca
Dẫu ngày tháng vẫn hanh hao niềm cũ
Cõi ân tình đọng mấy giọt sương sa
Ta làm kẻ tiều phu quên ngày tháng
Hát rong chơi bên dốc đá rừng cây
Từ hố thẳm dội lên lời âm vọng
Bản lai về diện mục ở đâu đây
- Sưu tầm
Phật dạy rằng, không duyên không nợ làm sao gặp gỡ, mối quan hệ nhân quả nghiệp báo giữa cha mẹ và con cái cũng không phải là ngoại lệ.
“Có thể người vợ ở kiếp này là người bạn chôn kiếp trước, tới trả nợ cho bạn. Đứa con trai ở kiếp này, là chủ nợ của bạn ở kiếp trước, để đòi món nợ chưa trả. Đứa con gái ở kiếp này, là người tình ở kiếp trước, tới vì tình cảm chưa dứt. Người tình kiếp này, là vợ chồng của kiếp trước tới nối tiếp phần duyên phận chưa dứt. Hồng nhan tri kỷ của kiếp này là anh em của kiếp trước tới chia sẻ những tâm sự chưa nói hết. Người giàu có kiếp này là người giàu lòng thiện kiếp trước, tới nhận phần công đức đã phát ra từ kiếp trước … Đây không phải là mê tín mà là nhân quả luân hồi, là số kiếp. Phật thường nói rằng nếu không nợ nhau thì làm sao gặp gỡ”.
Con cái đến với cha mẹ ở kiếp này là có bốn loại nghiệp duyên:
-1- để báo ơn
-2- để đòi nợ
-3- để trả nợ
-4- để báo oán
Ơn oán nghiệp lực còn phụ thuộc vào cả kiếp trước và cả những việc làm của cha mẹ kiếp này. Có nhiều gia đình, bố mẹ ngay thẳng, thật thà những lại sinh con cái nghịch ngợm, “rạch giời rơi xuống”. Hay những gia đình bố mẹ giàu có lại sinh ra những đứa con phá gia chi tử, ăn chơi đàng điếm, có khi còn vướng vòng lao lý. Tất cả đều có thể lý giải ở hai chữ nhân quả. Tiền buôn bán kiếm được có thể là tiền bất chính, nên bằng cách này hay cách khác cũng sẽ đội nón ra đi, của thiên lại trả địa. Con cái chỉ là người dùng duyên nghiệp đó mà trả nghiệp cho cha mẹ thôi.
Đừng hỏi tại sao những người đàn ông vốn đã từng làm khổ nhiều cô gái hoặc tính tình lăng nhăng thì thường sinh ra nhiều hơn một cô con gái. Số phận những cô con gái đó sướng khổ thế nào phụ thuộc rất nhiều vào nghiệp lực mà bố mẹ đã tạo ra trong quá khứ, người bố từng phũ phàng với nhiều cô gái thì cô con gái sau này nhiều khả năng cũng bị khổ sở vì đàn ông phũ phàng. Người bố sinh nhiều con gái nhưng vẫn hết lòng thương yêu vợ con, sau này các con sẽ vô cùng có hiếu. Nếu ác nghiệp kiếp trước đã hết, lại được thiện nghiệp kiếp này vun dày thì cuối đời chỉ cần ngồi hưởng hạnh phúc, gia đạo yên vui. Con cái đến hồi báo hiếu.
Thế nhưng, trên đời này, mọi trái nghịch cũng đều có nhân duyên, bởi sự đời không phải khi nào cũng thuận. Là do cái thế đối đãi ở thế giới này. Thế nào cũng có ít nhiều những cái nghịch lòng xảy ra khi đã thấy cái thuận lòng. Chỉ là thiếu duyên thì ẩn, đủ duyên thì hiện. Không phải mẹ nào cũng đều hy sinh mọi thứ cho con. Không phải cha nào cũng biết lo toan đầy đủ. Có mẹ bỏ con cho kiến dập vùi. Có cha đánh con đến nỗi thương vong. Con trẻ, không phải ai cũng hiếu thuận, vẫn thấy có người dửng dưng với những lo toan vất vả của đấng sinh thành. Đứa thì thuận thảo. Đứa chưa mở miệng đã thấy nhăn nhó ... Mọi thứ đều có nhân duyên. Đều do nghiệp lực thiện ác mình đã gây tạo trong đời.
Nói về bốn loại duyên giữa con cái và cha mẹ, Phật dạy rằng:
- Loại thứ nhất là BÁO ÂN
Kiếp trước, cha mẹ có ân với con, kiếp này con đầu thai để trả nợ cho cha mẹ. Ân càng lớn, con ở với cha mẹ càng lâu, trả hết ân, con cái sẽ ra đi.
- Loại thứ hai là BÁO OÁN
Kiếp trước, cha mẹ có kết hận với họ nên họ đầu thai vào làm con của cha mẹ kiếp này để báo oán. Thế mới có trường hợp, con cái ngỗ ngược, phá gia chi tử. Đừng vội trách con, hãy trách kiếp trước cha mẹ từng nợ chúng.
- Loại thứ ba là ĐÒI NỢ
Kiếp trước, cha mẹ thiếu nợ con, kiếp này con đến đòi nợ. Nếu thiếu nợ ít, nuôi hai - ba năm, con bèn chết. Nếu thiếu nợ nhiều, đại khái là nuôi đến khi tốt nghiệp đại học, sắp có thể làm việc bèn chết mất. Nợ đã đòi xong, con bèn ra đi.
- Loại thứ tư là TRẢ NỢ
Kiếp trước, con nợ cha mẹ, kiếp này con đầu thai làm con để trả nợ. Con sẽ nỗ lực làm ăn để nuôi nấng cha mẹ, bao giờ hết nợ, con mới dứt áo ra đi. Đừng vội trách con đối đãi nhiều hay ít, bởi lẽ còn phụ thuộc vào kiếp trước con nợ cha mẹ mức nào.
Sinh con ra khó nhọc, nuôi nấng con còn khó nhọc hơn. Làm gì cũng nên tích đức cho con cái, đừng vì tham lam mà làm điều ác để lấy nhà cao cửa rộng cho con, cũng đừng vì ích kỷ, thù hằn cá nhân mà gây ác nghiệp, có thể kiếp sau quả báo mới tới, nhưng cũng có thể kiếp này đã tới ngay trong đời con. Nếu sinh con ra không được như ý muốn thì cũng đừng buồn giận, chỉ là ta đang phải trả nghiệp cho kiếp trước hay cho những gì ta làm trong quá khứ mà thôi.